Lịch Sử Quốc Hội Việt Nam Tập 1 (NXB Chính Trị 2007) - Văn Phòng Quốc Hội

Discussion in 'Lịch Sử, Địa Lý' started by admin, May 1, 2014.

  1. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    [​IMG]
    LỜI GIỚI THIỆU
    https://drive.google.com/drive/folders/1yLBzZ1rSQoNjmWeJTM6cEZ3WGQHg04L1
    Việt Nam là một nước văn hiến từ ngàn xưa. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc. Từ giữa thế kỷ XIX trở đi, nhân dân Việt Nam đã không ngừng đứng dậy đấu tranh chống lại ách thống trị của thực dân Pháp. Trong cao trào giải phóng dân tộc ngày 16-8-1945 Đại hội đại biểu quốc dân họp tại Tân Trào. Đại hội là hình ảnh tiêu biểu của khối đoàn kết dân tộc, đã hiệu triệu toàn dân nổi dậy giành chính quyền dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Ngày 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 3-9, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Ngày 6-1-1946, tất cả công dân Việt Nam không phân biệt nam nữa giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, chính kiến, v.v.. từ 18 tuổi trở lên đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử tự do lựa chọn người đại diện cho mình vào Quốc hội: cơ quan "quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hòa.

    Sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Quốc hội đã lập ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến, thông qua bản Hiến pháp (1946) là thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam gần 9 thập kỷ, trực tiếp là 15 năm đấu tranh dưới ngọn cờ Độc lập Tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo, là hiện thực sinh động về thể chế Nhà nước, cộng hòa dân chủ, một loại hình Nhà nước pháp quyền cách mạng của nhân dân Việt Nam.

    Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) vốn là một Quốc hội lập hiến. Song do hoàn cảnh cách mạng và kháng chiến nên Hiến pháp năm 1946 chưa được ban hành. Quốc hội đã giao cho Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội căn cứ vào các nguyên tắc đã định của Hiến pháp để thực thi việc lập pháp. Với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội đã giải quyết mọi vấn đề của toàn quốc, lập hiến và lập pháp, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài, Quốc hội khóa I đã hoàn thành trách nhiệm của mình đối với một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước.

    Mười bốn năm hoạt động trong hoàn cảnh kháng chiến cực kỳ khó khăn gian khổ (1946-1960) là quá trình rèn luyện Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (khóa I), Quốc hội vì dân, vì nước. Quốc hội thống nhất toàn quốc, Quốc hội kháng chiến và kiến quốc, Quốc hội dân tộc dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất và là đặc điểm độc đáo xuyên suốt của Quốc hội, hàm chứa nhiều bài học quý về tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân Việt Nam.

    Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước hoàn thiện nền dân chủ, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Trong sự nghiệp đổi mới, Quốc hội đang phát huy vai trò của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, từng bước hoàn thiện việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, tăng cường pháp chế và hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước. Truyền thống yêu nước, cách mạng và những kinh nghiệm hoạt động của Quốc hội khóa I dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cho Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vươn lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền mạng đậm bản sắc Việt Nam và dấu ấn của thời đại.

    Cuốn LỊCH SỬ QUỐC HỘI VIỆT NAM (1946-1960) do Văn phòng Quốc hội tổ chức nghiên cứu, biên soạn, đã được nhiều đại biểu Quốc hội khóa I, các giáo sư sử học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cùng các cơ quan nghiên cứu lịch sử đóng góp ý kiến. Đây là một công trình khoa học lịch sử về Quốc hội được biên soạn nghiêm túc và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam.
     

    Zalo/Viber: 0944625325 | buihuuhanh@gmail.com

  2. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    QUỐC DÂN ĐẠI HỘI TÂN TRÀO (8-1945)

    Dân tộc Việt Nam đã sớm hình thành trong lịch sử và có một nền văn hiến lâu đời. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống anh hùng bất khuất, đoàn kết thuỷ chung, có tình nghĩa đồng bào sâu nặng... Đó là một nét tiêu biểu trong bản sắc dân tộc của người Việt Nam.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta. Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v... Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng..."

    Dựa vào dân, bồi dưỡng sức dân, động viên toàn dân, phát huy sức mạnh truyền thống và bản sắc dân tộc của người Việt nam là kế sâu, gốc bền của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì thế, mỗi khi vận nước bị đe doạ, ngoại bang nhòm ngó và xâm lăng, cả nước đồng tâm, toàn dân tụ hợp, mở hội "Diên Hồng", nêu cao quyết tâm, bàn mưu tính kế, già trẻ gái trai xông lên giết giặc, cứu nước, cứu nhà. Đó là bí quyết thắng lợi, tạo nên những chiến công hiển hách trong lịch sử: Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Đống Đa...

    Giá trị tinh thần truyền thống ấy đã được giữ gìn và phát triển từ thế hệ này qua thế hệ khác.

    Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta. Ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược, nhân dân ta đã liên tục đứng lên kháng Pháp, kẻ trước ngã, người sau kế tiếp. Song, tất cả phong trào yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ đã lần lượt thất bại.

    Việt Nam đã trở thành một thuộc địa của Pháp. Dân ta bị áp bức và bóc lột nặng nề, bị mất hết quyền lợi về kinh tế và chính trị, mất hết độc lập và tự do.

    Phá ách, chặt xiềng nô lệ cho đồng bào, giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do là yêu cầu bức thiết nhất của toàn dân ta.

    Vào những năm 20 của Thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống văn hiến của dân tộc, tiếp thu tri thức cách mạng phong phú của nhân loại trong thời đại mới, vạch đường cách mạng giải phóng dân tộc để đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc và tự do dân chủ cho nhân dân.

    Tháng 7-1920, khi đọc bản sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã phấn khởi, tin tưởng, coi đó là "cái cẩm nang cần thiết cho chúng ta", là con đường giải phóng đất nước.

    Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của cả dân chúng, của toàn thể quốc dân đồng bào. Phải khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, tình nghĩa đồng bào, khối đoàn kết dân tộc, sĩ, nông, công, thương lấy công - nông làm gốc nhằm tạo nên sức mạnh dân tộc để chiến đấu và chiến thắng đế quốc thực dân.

    Tháng 2-1930, Hồ Chí Minh đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và soạn thảo Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng. Đó là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xác định chủ trương chiến lược làm cách mạng tưsản dân quyền để đi tới xã hội cộng sản. Đảng phải vận động thu phục cho được đông đảo quần chúng công dân, nông dân, ra sức lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tập hợp hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ và tưsản Việt Nam nhằm thực hiện các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến, trước mắt là chống đế quốc và tay sai, giành độc lập, tự do cho toàn thể nhân dân Việt Nam

    Độc lập và tự do là tưtưởng chủ yếu trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng.

    Dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng, một cao trào cách mạng đã bùng lên mạnh mẽ trong toàn quốc năm 1930 - 1931, mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh. Tiếp đến là cao trào dân chủ rộng lớn và sôi nổi khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam trong những năm 1936 - 1939. Đây là các cuộc tổng diễn tập cho cuộc cách mạng Tháng tám năm 1945.

    Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Đế quốc Pháp tham chiến. Phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật.

    Nhật - Pháp cấu kết với nhau ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân các dân tộc Đông Dương. Quyền lợi của tất cả các giai cấp đều bị Nhật - Pháp cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Vì vậy, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 dới sự chủ trì của Nguyễn Văn Cừ và đặc biệt là Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 5-1941 do Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, đã nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác lại nhiệm vụ cách mạng ruộng đất; thống nhất lực lượng cách mạng dân tộc của ba nước trên bán đảo Đông Dương; không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, tiểu tưsản, tưsản bản xứ, trung, tiểu địa chủ, ai có lòng yêu nước thương nòi đều tham gia vào một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành quyền độc lập, tự do cho các dân tộc ở Đông Dương theo quan điểm thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Đối với Việt Nam, sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật sẽ lập nên một nước Việt Nam mới theo chế độ dân chủ cộng hoà. Cách mạng Đông Dương hiện tại chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp là giải phóng dân tộc, vì nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì chẳng những vận mệnh của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Do đó, tính chất của cách mạng Đông Dương lúc này là "cách mạng dân tộc giải phóng". Vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc, phải khơi dậy mạnh mẽ chí khí cách mạng, tinh thần yêu nước bất khuất, đoàn kết, thống nhất các lực lượng yêu nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.

    Tháng 6-1941, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc. Người viết: "Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sâu, lửa nóng... Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng...."

    Ngày 25-10-1941, Việt Nam độc lập đồng minh đã chính thức tuyên bố ra đời. Tuyên ngôn của Việt Minh nêu rõ: "Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta, chưa bao giờ dân tộc ta nhục nhằn, đau khổ nhưlúc này... Nguy cơ diệt vong đã bày ra trước mắt. Hiện thời, chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết thống nhất, đánh đuổi Nhật - Pháp, trừ khử Việt gian. Mở con đường sống ấy cho đồng bào, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ra đời chào các bạn".

    Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm bao gồm các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm thực hiện hai điều cốt yếu mà quốc dân đồng bào đang mong ớc là:

    "1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;

    2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do !".

    Đặt quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng bắt tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia miễn là thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập. Sau khi đánh đuổi được bọn đế quốc phát xít "sẽ lập lên một Chính phủ cách mạng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, theo tinh thần tân dân chủ, lấy cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ chung của nước. Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, do quốc dân đại hội cử lên...". Thực hiện chủ trương cứu nước, Việt Minh đã tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Phong trào cách mạng phát triển ngày càng mạnh mẽ và đều khắp ở cả nông thôn và đô thị.

    Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế và các đô thị khác, cơ sở Việt Minh đã được tổ chức ở trong nhiều nhà máy, trờng học, đường phố... Phong trào thanh niên, học sinh, trí thức được khởi dậy mạnh mẽ. Đảng dân chủ Việt Nam ra đời (6-1944). Hội Văn hoá cứu quốc được thành lập. Mặt trận Việt Minh có thêm các thành viên mới. Các căn cứ địa và lực lượng vũ trang cách mạng được hình thành.

    Trên thế giới, cuộc chiến tranh chống phát xít đã đi vào giai đoạn kết thúc thắng lợi. Quân đội Xô Viết đang phản công phát xít Đức trên nhiều mặt trận. ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương, cục diện chiến tranh cũng đang chuyển biến có lợi cho các lực lượng chống phát xít, cho phong trào giải phóng dân tộc...

    Trong bối cảnh thời cuộc khẩn trương đó, tháng 10-1944, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào, thông báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân để thành lập một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta để tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh thủ ngoại viện của quốc tế nhằm chớp thời cơ thuận lợi thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Cơ cấu tổ chức đó "phải do một cuộc toàn dân đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang.

    Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh !

    Tôi mong rằng các đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị cùng nhau thảo luận để khai cuộc Toàn quốc đại biểu đại hội trong năm nay. Như vậy thì ngoại viện nhất định cầu được, cứu quốc nhất định thành công"

    Tháng 3-1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương, tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc. Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng và đã ra bản chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" vạch ra những nhiệm vụ và chủ trương, biện pháp cách mạng mới để chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước phù hợp với tình hình lúc này. Một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa đã phát triển trong toàn quốc. Phong trào chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra trong nhiều địa phương, nhất là ở thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hàng loạt xã, châu, huyện thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang... được giải phóng.

    Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Uỷ ban dân tộc giải phóng. Chỉ thị nêu rõ: "Trong tình thế chính quyền đế quốc có chỗ tan rã, có chỗ không được ổn định như ở nước ta ngày nay, Uỷ ban dân tộc giải phóng là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng". Uỷ ban dân tộc giải phóng được thành lập ở các cấp từ cơ sở đến Trung ương. Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

    Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang. Ngày 4-6-1945, Hội nghị cán bộ Việt Minh đã quyết nghị thành lập khu giải phóng. Khu giải phóng chính thức được thành lập gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Uỷ ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng gồm 5 người. Uỷ ban có nhiệm vụ lãnh đạo toàn Khu về các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội. Chính sách chung của Uỷ ban lâm thời dựa vào ba điểm chính sau:

    1 - Tổng động viên nhân dân trong khu để kháng Nhật.

    2 - Căn cứ vào điều kiện cụ thể và nhu cầu của cuộc kháng chiến mà thực hiện chương trình Việt Minh, kiến lập nền dân chủ cộng hoà và ban bố các quyền phổ thông đầu phiếu, tự do dân chủ, dân tộc tự quyết, nam nữ bình quyền.

    3 - Cải thiện sinh hoạt cho nhân dân: bỏ sưu, bỏ thuế thân, vận động sinh sản, v.v...

    Tân Trào được chọn là Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Hơn một triệu đồng bào trong Khu giải phóng bắt đầu được hưởng thành quả cách mạng.

    Khu giải phóng là căn cứ địa chính của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của Nước Việt Nam mới.

    Tại Tân Trào, Hồ Chí Minh chỉ thị phải gấp rút họp đại hội đại biểu quốc dân. Lúc bấy giờ, cao trào Kháng Nhật cứu nước đang cuồn cuộn dâng lên từ Nam chí Bắc. Toàn quốc đang mong đợi một Chính phủ lâm thời cách mạng của nước Việt Nam độc lập. Võ Nguyên Giáp cho biết: "Theo chỉ thị của Hồ Chủ Tịch, cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội phải khai hội chậm nhất là vào trung tuần tháng bảy. Hồ Chủ Tịch đã từng cân nhắc giá trị của thời đại, của mỗi ngày, mỗi giờ trong lúc đại chuyển biến. Cho nên, khi thấy công việc chậm trễ, thì Chủ tịch đã từng dùng đủ mọi cách để động viên tinh thần các cán bộ phụ trách và thúc giục công cuộc khai hội. Nào thơ viết tay để chỉ rõ công việc khẩn cấp nhưthế nào, nào giao thông đặc biệt tung ra các hướng để thúc giục đại biểu. Chủ tịch thấy rõ, lúc bấy giờ, chậm một tý, tức là bỏ lỡ nhiều cơ hội thuận lợi. Song, vì liên lạc khó khăn, đường sá trắc trở, mặc dầu anh em, đại biểu đã hết sức đi chóng, mà mãi đến mười, mười bốn tháng tám, các đại biểu mới lục tục kéo đến Tân Trào... Những đoàn đại biểu đi sau tính ra đến mười sáu, mười bảy hoặc mười tám, mới tề tựu đông đủ...".

    Tháng 8-1945, Quân đội Liên xô tấn công như vũ bão, đánh bại đội quân Quan Đông tinh nhuệ và hùng mạnh của Nhật tại Mãn Châu. Quân Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất Nhật. Chính phủ Nhật Bản đầu hàng. Quân Nhật ở Đông Dương bị tê liệt. Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang tan rã.

    Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đông minh vào Đông Dương và ngây đêm hôm đó Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ mệnh lệnh khởi nghĩa. Uỷ ban khởi nghĩa cũng đã ra Quân lệnh số 1. Quân lệnh viết: "Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh ! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!... chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta".

    Sáng 15-8-1945, được tin đích xác vua Nhật đã ra lệnh đầu hàng cho quân đội Nhật, Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh thấy không thể chờ đợi cho thật đông đủ tất cả các đại biểu nữa nên đã quyết định khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân vào chiều ngày 16-8-1945 và tiến hành rất nhanh chóng để các đại biểu có thể mang lệnh khởi nghĩa về các địa phương. Hơn 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo, có cả đại biểu từ Nam bộ, miền Nam Trung Bộ và Việt Kiều ở Thái Lan, ở Lào về dự đại hội. Đại hội họp tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đình lợp lá cọ, có ba gian, gian giữa có bàn thờ, vẫn để nguyên không đụng chạm đến. Gian bên phải triển lãm sách báo cách mạng, gian bên trái là gian họp của Đại hội. Hồ Chí minh vừa bị cơn sốt nặng, sức còn yếu nhưng Người đã đến dự đại hội. Đây là lần đầu tiên sau khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh ra mắt anh chị em đại biểu khắp ba kỳ, cả đại biểu Việt Kiều ở Thái Lan và Lào. "Được gặp vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, được nghe vị lãnh tụ ấy vạch rõ phương châm thành công, với một giọng nói hiền từ mà kiên quyết, các đại biểu ai nấy đều có cảm tưởng đã được thoả mãn trong ước vọng bình sinh của mình, lòng tin tưởng vào tương lai càng cao". Trường Chinh, Tổng bí thưĐảng Cộng sản Đông Dương, đọc bản báo cáo trước Đại hội nêu ra hai vấn đề lớn: Tổng khởi nghĩa và bầu Uỷ ban dân tộc giải phóng. Đảng cộng sản Đông Dương chủ trương lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai của Nhật, đứng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng Minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương .

    Đại Hội đã nghe Hoàng Quốc Việt báo cáo về phong trào công nhân, Trần Đức Thịnh về nông dân, Nguyễn Đình Thi về văn hoá, Hoàng Đạo Thuý về hướng đạo, v.v... Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng phải kịp thời đứng lên phấn đấu, thi hành 10 điểm sau:

    "1- Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.

    2- Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải phóng Việt Nam.

    3- Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.

    4- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.

    5- Ban bố những quyền của dân, cho dân: nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu); dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.

    6 - Chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.

    7 - Ban bố Luật lao động: ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.

    8 - Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở mang Quốc gia ngân hàng.

    9 - Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hoá mới.

    10 - Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng mình và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ" .

    Đại hội đã quyết định lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch và các Uỷ viên là Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang, Thường trực của Uỷ ban là Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền. Đại hội bế mạc ngày 17-8-1945. Trong buổi bế mạc Uỷ ban dân tộc giải phóng hướng lên lá cờ đỏ sao vàng, trang nghiêm tuyên thệ: chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước . Đại hội bế mạc trong không khí tổng khởi nghĩa sôi sục, Lệnh khởi nghĩa đã truyền đi từ hôm 13-8-1945. Các đại biểu phải khẩn trương trở về địa phương lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền theo ba nguyên tắc: tập trung, thống nhất, kịp thời. Thì giờ rất cấp bách. Phải hành động cho kịp thời cơ: "Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập: Nhiều sự gay go trở ngại sẽ gây ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những sự không lợi cho ta. Kiên quyết để giành cho được nền hoàn toàn độc lập... Một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập. Chúng ta sẽ thắng lợi" .

    Hồ Chí Minh, Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng đã gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc trước giờ phút đấu tranh quyết liệt và khẩn trương: Tổng khởi nghĩa. Bức thưcó đoạn viết:

    "Hỡi đồng bào yêu quý!

    ....

    Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước.

    ... giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

    Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

    Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!".

    Quốc dân Đại hội diễn ra khẩn trương và thắng lợi trong đêm trước cuộc Cách mạng Tháng Tám là hình ảnh tiêu biểu của khối đoàn kết dân tộc đồng tâm nhất trí đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta ở một thời điểm thuận lợi ngàn năm có một. Thắng lợi đó là một biểu hiện sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc bằng hình thức tổ chức Quốc dân Đại hội để thông qua quyết sách chuyển xoay vận nước bằng Tổng khởi nghĩa, xoá khởi nghĩa, xoá bỏ chế độ cũ, thi hành 10 chính sách của Việt Minh, đặt cơ sở mang tính pháp lý cách mạng đầu tiên cho một chế độ mới của dân, do dân và vì dân sắp ra đời.

    Thực hiện nghị quyết tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân Đại hội và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước, triệu người nhưmột nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được chính quyền trong toàn quốc.

    Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (19-8), Huế (23-8), Sài Gòn (25-8). Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để "được làm dân tự do của một nước độc lập" .

    Với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, Nhật; đã lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế, lập lên nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.

    Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng Hồ Chí Minh về Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhiều Uỷ viên Việt Minh trong Chính phủ đã tự nguyện rút ra khỏi Chính phủ để mời thêm nhiều nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia. "Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân". Ngày 27-8-1945, Chính phủ đã ra lời tuyên cáo nói rõ: "Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy... Uỷ ban dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cũng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó. Chính phủ lâm thời...thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hoà chính thức" .

    Chính phủ lâm thời gồm có:

    1. Chủ Tịch kiêm Ngoại giao Hồ Chí Minh

    2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp

    3. Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền Trần Huy Liệu

    4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn

    5. Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền

    6. Bộ trưởng Bộ Kinh tế quốc gia Nguyễn Mạnh Hà

    7. Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố

    8. Bộ trưởng Bộ tưpháp Vũ Trọng Khánh

    9. Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Đào Trọng Kim

    10. Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến

    11. Bộ Trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch

    12. Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng

    13. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè

    14. Bộ trưởng không giữ bộ nào Cù Huy Cận

    15. Bộ trưởng không giữ bộ nào Nguyễn Văn Xuân

    Ngày 30-8-1945, tại Huế, Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ lâm thời đã tuyên bố chấp nhận sự thoái vị của Bảo Đại và nhận ấn, kiếm của nhà vua giao nộp cho Chính phủ trước sự chính kiến của hàng vạn đồng bào Thừa Thiên - Huế.

    Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, trước cuộc mít tinh của hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời. Bản tuyên ngôn khẳng định:

    "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

    "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

    Độc lập tự do - tưtưởng cách mạng chủ yếu của Hồ Chí Minh được phác thảo trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2-1930), là mục tiêu đấu tranh trực tiếp của mặt trận Việt Minh (1941) và của Đại hội đại biểu quốc dân Tân Trào (8-1945) đã thành hiện thực bằng sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Một kỷ nguyên mới trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam đã được mở ra - Kỷ nguyên Độc lập Tự do.
     
  3. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (6-1-1946)

    Ngay sau khi mới thành lập, Chính quyền Cách mạng của nhân dân Việt Nam phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo.

    Chính phủ lâm thời long trọng tuyên bố với thế giới: Việt Nam đã thành một nước Độc lập và Tự do. Chính phủ Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời, song chưa được một quốc gia nào trên thế giới công nhận. Trái lại, các thế lực đế quốc và tay sai đang ráo riết chống lại Đảng Cộng Sản và Việt Minh, hòng lật đổ chính quyền cách mạng và thiết lập một chính quyền phản động tay sai cho đế quốc.

    Dưới danh nghĩa quân Đồng Minh tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật, quân đội một số nước đế quốc đã kéo vào nước ta: gần 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc vĩ tuyến 16 và hàng vạn quân đội Anh ở phía Nam vĩ tuyến 16.

    Nấp dưới bóng quân Anh, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã nổ súng ở Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Hàng vạn quân Nhật còn lại trên đất nước ta cũng tham gia chống lại chính quyền cách mạng.

    Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần nắm giữ, từ lâu sống dưới bóng của chính quyền Tưởng giới Thạch ở Trung Quốc, theo chân Quân đội Tưởng kéo về nước chống phá cách mạng. Việt Quốc và Việt Cách dựa vào quân Tưởng đã chiếm giữa mốt số nơi ở Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái. Chúng quấy nhiễu, phá phách, cướp của, tống tiền, gây rối loạn trật tự trị an. Chúng giải truyền đơn, ra báo công khai xuyên tạc chính sách của Đảng, của Việt Minh, đòi loại bỏ các Bộ trưởng và Đảng viên Cộng sản ra khỏi Chính phủ... . Một số lực lượng phản động khác cũng đã nổi dậy ở một số nơi, chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế!

    Thêm vào đó, chính quyền cách mạng còn phải tiếp thu cả một gia tài đổ nát do chế độ cũ để lại: Công nghiệp phá sản, nông nghiệp đình đốn, tài chính kiệt quệ, nạn đói đe doạ trầm trọng. Hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội nặng nề, kinh nghiệm quản lý chính quyền chưa có... Giặc ngoài thù trong, khó khăn chồng chất đang đặt chính quyền cách mạng đứng trước thử thách "ngàn cân treo sợi tóc". Vận mệnh của Tổ quốc, nền độc lập vừa dành được của dân tộc đang dứng trước nguy cơ mất còn. Vì thế, cuộc cách mạng dân tộc ở nước ta vẫn đang tiếp diễn. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy, khẩu hiệu cách mạng của nhân dân lúc này vẫn là "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết". Khác với nội dung cơ bản trước đây của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, để giành chính quyền, thì ngày nay nội dung cơ bản của nó là đấu tranh chống giặc ngoài thù trong để giữ cho được chính quyền cách mạng của dân vừa giành được. Bởi vì chính quyền cách mạng là thành quả và kết tinh cao nhất thắng lợi của cách mạng Tháng Tám. Mất chính quyền là mất tất cả, là trở lại đời nô lệ. Giữ vững và bảo vệ chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hết sức cấp bách, sống còn của nhân dân lúc này. Chính quyền là công cụ sắc bén, là đòn bẩy để đưa cách mạng tiến lên. Muốn vậy, phải tăng cường khối đoàn kết toàn dân, hoà hợp dân tộc, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội và ngoại giao, kháng chiến đi đôi với kiến quốc, chống giặc ngoại xâm gắn liền với chống giặc đói và giặc dốt.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng và thực thi nhiều biện pháp để tập hợp, sử dụng nhân sĩ, trí thức, nhân tài phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Nhiều nhân sĩ, trí thức được mời tham gia bộ máy hành chính và cơ quan chuyên môn ở các cấp, nhất là ở Trung ương. Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại) đã được cử làm cố vấn Chính phủ lâm thời dân chủ cộng hoà theo Sắc lệnh số 23-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 10-9-1945.

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để củng cố và tăng cường chính quyền là phải thực hiện quyền dân chủ cho quần chúng, phải "xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức" .

    Vì vậy, ngày 3-9-1945, tức là một ngày sau khi Nhà nước cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giầu, nghèo, tôn giáo, dòng giống v.v.." .

    Ngày 8-9-1945 Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Bản sắc lệnh ghi rõ: "Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16, 17-8-1945, tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên;

    Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối vao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ Cộng hoà;

    Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống lại nạn ngoại xâm...". Như vậy, bản Sắc lệnh đã khẳng định yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử, đồng thời khẳng định chúng ta có đủ cơ sở Pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đó. Bản Sắc lệnh gồm 7 điều, quy định: "trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội" (Điều 1); "Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường" (Điều 2); "Một Uỷ ban để dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được thành lập" (Điều 5); "Để dự thảo một bản Hiến pháp đệ trình Quốc hội, một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp 7 người sẽ thành lập" (Điều 6) . Chính phủ lâm thời còn ra một loạt sắc lệnh để xúc tiến công việc chuẩn bị cụ thể cho việc Tổng tuyển cử. Sắc lệnh số 34-SL ngày 20-9-1945, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm có: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu. Sắc lệnh số 39-SL ngày 26-9-1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử gồm 9 người, trong đó có đại diện của các ngành, các giới . Sắc lệnh số 51-SL ngày 17-10-1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải được tiến hành theo lối phổ thông đầu phiếu bầu cử trực tiếp và bí mật. Sắc lệnh số 71 ngày 2-12-1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người ứng cử: Vì hoàn cảnh giao thông khó khăn, người ứng cử có thể gửi ngay đơn cho Uỷ ban nhân dân nơi mình c chú và yêu cầu Uỷ bân ấy điện cho Uỷ ban nhân dân nơi mình xin ứng cử, đơn và giấy chứng thực đủ điều kiện sẽ do Uỷ ban nhân dân nơi mình cư trú chuyển sau cho Uỷ ban nhân dân nơi mình ứng cử.

    Công việc Tổng tuyển cử diễn ra trong điều kiện giặc ngoài thù trong, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hết sức khó khăn, vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết những nhiệm vụ rất cấp bách hằng ngày đặt ra, vừa thực hiện sách lược tạm thời hoà hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc, đồng thời lại vừa phải đấu tranh để chống lại những hành động phá hoại điên cuồng của chúng. Trong điều kiện như thế, đây không phải là một cuộc Tổng tuyển cử thông thường, mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt. Các báo phản động như Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm vu cáo, nói xấu Việt Minh, kêu gọi tẩy chưay Tổng tuyển cử vì rằng trình độ dân trí của ta còn thấp kém (!), trên 90% dân số mù chữ nên không đủ năng lực thực hiện quyền công dân của mình, rằng cần tập trung chống Pháp xâm lược không nên mất thì giờ vào bầu cử, v.v.. và v.v.. . Thực chất là chúng nhằm phá hoại Tổng tuyển cử vì Tổng tuyển cử sẽ đi đến hợp pháp hoá chính quyền cách mạng mà chúng muốn lật đổ, sẽ bóc trần bản chất tay sai, và bộ mặt "quốc gia", "ái quốc" bịt bợm của chúng trước d luận. Bằng lá phiếu của mình, quốc dân sẽ cô lập và đào thải chúng ra khỏi đời sống chính trị của đất nước. Bác bỏ luận điều xảo trá nói trên, báo Cứu quốc, cơ quan tuyên truyền đấu tranh của Mặt trận Việt Minh, ngày 24-11-1945 đã viết: "Vẫn biết đại đa số dân mình chưa biết đọc biết viết, nhưng vin vào đây để kết luận rằng dân ta không đủ t cách để kén chọn đại biểu là không hiểu gì dân chúng, không hiểu gì chính trị. Căn cứ vào phong trào đánh Pháp đuổi Nhật vĩ đại ở khắp nước vừa qua, ta thấy dân chúng đã có ý thức chính trị một cách khá dồi dào. Và hễ có ý thức chính trị là có đủ những điều kiện cần thiết nhất để phân biệt ai là thù, ai là bạn, ai xứng đáng là đại biểu chân chính của mình. Nói khác đi, dân chúng chưa biết đọc, biết viết, chưa biết bàn luận những chuyện xa xôi, nhưng có một điều mà họ biết chắc chắn, biết rõ ràng hơn ai hết, là quyền lợi của họ... Họ đi với những ai bênh vực, chiến đấu cho quyền lợi của họ, họ chống những ai xâm phạm quyền lợi của họ... chỉ Tổng tuyển cử mới để cho dân chúng có dịp nói hết những ý muốn của họ, và chỉ có chính phủ lập ra bởi tổng tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc dân. Sau hết, cũng chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể cấp cho nước Việt Nam một Hiến pháp mới ấn định rõ ràng quyền lợi của Quốc dân và của Chính phủ và mới phá tan được hết những nghi ngờ ở trong cũng như ở ngoài đối với chính quyền nhân dân" .

    Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện chủ trương "thống nhất, thống nhất và thống nhất", Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử. Hành động này chứng tỏ Chính phủ và Việt Minh luôn luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân, tôn trọng người tài năng, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm thiên chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà.

    Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó.

    Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết " .

    Đối với Việt Cách, Việt Quốc, Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết đấu tranh chống lại mọi sự phá hoại chống đối của họ, đồng thời cũng đã cố gắng nhân nhượng, hoà giải nhằm tạo bầu không khí ổn định cho Tổng tuyển cử.

    Vào trung tuần tháng 9-1945, tướng Tiêu Văn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi Chính phủ lâm thời phải dàn xếp với Việt Cách và phải để cho hai đại diện của Việt Cách được giữ hai ghế cao cấp trong Chính phủ. Thực hiện chủ trương thống nhất và hoà giải, tại phiên họp ngày 27-9-1945, Hội đồng Chính phủ đã bàn bạc và nhất trí để Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch của Chính phủ .

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gặp Tiêu Văn bàn vấn đề Việt Cách hợp tác với Chính phủ. Tiêu Văn nói "đã khuyên ông Nguyễn Hải Thần nên hợp tác với Chính phủ lâm thời" và "tỏ vẻ không bằng lòng về thái độ của ông Nguyễn Hải Thần công kích Chính phủ... ".

    Ngày 23-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần đã ký thoả ớc chấp nhận hai bên đoàn kết và hợp tác. Nhưng sau đó ít ngày, Nguyễn Hải Thần đã tuyên bố xé bỏ thoả ước trên. Chính phủ lại chủ động tiếp xúc bàn bạc với Việt Cách. Họ vẫn đưa ra những yêu sách ngang ngược nhưđòi thay Quốc kỳ, lập lại Chính phủ, xoá bỏ chế độ Uỷ ban nhân dân.

    Còn Việt Quốc thì đòi nắm giữ các Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Kinh tế, Bộ Giáo dục, Bộ Quốc phòng, Bộ Thanh niên. Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 27-1-1945 đã khẳng định không thể trao cho Việt Quốc giữ các Bộ quan trọng như Nội vụ, Tài chính, Quốc phòng... được . Việt Quốc cũng đòi hoãn cuộc Tổng tuyển cử, đòi cho họ chiếm 1/3 số ghế trong Quốc hội và Việt Minh cũng chỉ được 1/3 số ghế mà thôi .

    Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ vẫn kiên trì tìm mọi biện pháp để hoà giải, nhân nhượng một cách khôn khéo.

    Đảng Cộng sản Đông Dương phải đi vào hoạt động bí mật, song công khai tuyên bố tự giải tán nhằm "phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà" và chỉ để một bộ phận hoạt động dưới danh nghĩa "Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương". Đó là một cách "để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn" .

    Ngày 19-11-1945, Hội nghị Liên tịch gồm ba phái (Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách) do Hồ Chí Minh chủ trì, có tiêu văn và một số đại diện khác của Tưởng dự với tính cách làm trung gian. Hội nghị kéo dài nhưng cuối cùng cũng chỉ thoả thuận với nhau 3 điều kiện cho sự đoàn kết hợp tác là: Đình chỉ công kích lẫn nhau, kêu gọi đoàn kết, kêu gọi ủng hộ kháng chiến Nam Bộ.

    Ngày 24-11-1945, đại biểu của ba phái lại gặp nhau và ký tên vào bản "đoàn kết tinh thành" khiến tình hình dịu đi.

    Ngày 25-11-1945, trong bảng chỉ thị "kháng chiến kiến quốc", Trung ương Đảng nhấn mạnh về mặt nội chính, phải xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức và dự kiến "nếu vì lý do cần thiết thống nhất dân tộc và xúc tiến ngoại giao thì có thể cải tổ Chính phủ trước ngày bầu cử Quốc hội" .

    Ngày 5-12-1945, Báo sự thật đăng thư ngỏ gửi Việt Quốc, phê phán thái độ ngang ngược của họ và đưa ra ba nguyên tắc để đoàn kết: "1) Đoàn kết hợp tác giữa tất cả các đoàn thể yêu nước chân chính, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọn phản quốc; 2) Sự đoàn kết thành thực giữa các Đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảng hành động chung; 3) Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc rèm pha cuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến" .

    Ngày 18-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh: hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày chủ nhật 6-1-1946; Hạn nộp đơn ứng cử kéo dài đến hết ngày 27-12-1945; Nơi nào lệnh hoãn không đến kịp, Chính phủ vẫn cho phép tiến hành Tổng tuyển cử theo quy định cũ là ngày 23-12-1945. Lệnh lùi ngày Tổng tuyển cử nhằm tạo điều kiện cho công việc chuẩn bị chu đáo hơn nữa và nhất là để các ứng cử viên có điều kiện nộp đơn và vận động tranh cử.

    Qua một quá trình đấu tranh thương lượng và nhân nhượng, Việt Quốc đã thoả thuận hợp tác với Chính phủ và ủng hộ cuộc Tổng tuyển cử. Trên cơ sở đó, ngày 24-12-1945, Việt Minh, Việt Cách và Việt Quốc đã ký bản biện pháp đoàn kết gồm 14 điều chính và 4 điều phụ, trong đó có 3 khoản chủ yếu: 1) Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết. Thân ái, thẳng thắn giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt. Nếu ai dùng vũ lực gây rối loạn sẽ bị Quốc dân ruồng bỏ; 2) ủng hộ tổng tuyển cử Quốc hội và kháng chiến; 3) Đình chỉ công kích lẫn nhau bằng ngôn luận và hành động.

    Ngoài ra, bản biện pháp này còn đề ra những việc cụ thể như mở rộng Chính phủ lâm thời, thừa nhận 70 ghế cho Việt Quốc, Việt Cách trong Quốc hội không qua bầu cử. Tiếp theo, ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ Liên Hiệp lâm thời, mở rộng thành phần chính phủ để thu hút thêm một số thành viên của Việt Cách và Việt Quốc. Thành phần Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm có:

    1. Chủ tịch kiêm ngoại giao Hồ Chí Minh

    2. Phó Chủ Tịch Nguyễn Hải Thần

    3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp

    4. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyên cổ động Trần Huy Liệu

    5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn

    6. Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền

    7. Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn tường Long

    8. Thứ Trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà

    9. Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố

    10. Bộ trưởng Bộ T pháp Vũ Trọng Khánh

    11. Bộ trưởng Bộ Y tế Trương Đình Tri

    12. Thứ trưởng Bộ Y tế Hoàng Tích Trí

    13. Bộ trưởng Bộ giao Thông công chính Đào Trọng Kim

    14. Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến

    15. Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng

    16. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè

    17. Bộ trưởng Bộ Canh nông Cù Huy Cận

    18. Bộ trưởng không giữ Bộ nào Nguyễn Văn Xuân

    Chương trình đối nội đầu tiên của Chính phủ Liên hiệp lâm thời là "Làm cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẵn sàng việc khai Quốc hội" .

    Cùng với quá trình tăng cường đoàn kết, đấu tranh hoà hoãn ở bên trên để tạo không khí chính trị ổn định cho Tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời đã nhanh chóng tổ chức soạn thoả Hiến pháp và triển khai sâu rộng công tác chuẩn bị Tổng tuyển cử trong cả nước, coi đó là một cuộc vận động chính trị hết sức rộng lớn của toàn dân. Bản dự án Hiến pháp đã được Hội đồng Chính Phủ thảo luận, bổ sung và sửa đổi. Ngày 31-10-1945, Hội đồng Chính phủ quyết định sẽ công bố trên báo và in gửi đi các làng, xã để thu thập ý kiến của dân. Bản dự án Hiến pháp Việt Nam đã chính thức công bố trên báo Cứu Quốc ngày 10-11-1945 kèm theo thông cáo của Chính phủ. Thông cáo nêu rõ: "Muốn cho tất cả nhân dân Việt Nam dự vào việc lập Hiến pháp của nước nhà nên Chính phủ công bố bản dự án Hiến pháp này để mọi người được đọc kỹ càng và được tự do bàn bạc phê bình... Uỷ ban dự thảo Hiến pháp sẽ tập trung các đề nghị sửa đổi và ý kiến của nhân dân rồi trình lên toàn quốc đại Hội bàn luận" .

    Về công tác chuẩn bị Tổng tuyển cử, các ban bầu cử đã được thành lập tới tận làng xã do các Uỷ ban nhân dân các cấp trực tiếp đảm nhiệm.

    Trong không khí vô cùng phấn khởi, với tinh thần dân tộc dâng cao chưa từng có sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân cả nước đã đón nhận và chuẩn bị Tổng tuyển cử như ngày hội lớn của mình. Bằng sức mạnh vĩ đại và niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến tới Tổng tuyển cử bằng hành động cách mạng thực tiễn hàng ngày. Đẩy mạnh kháng chiến, cả nước hướng về Nam bộ. Đẩy mạnh "Tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa" để chống đói. Tiêu diệt giặc dốt, "biết chữ để cầm lá phiếu thực hiện quyền công dân", vv... Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách các cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện của mình, hạn chế tới mức cao nhất những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức. Trung ương Đảng chủ trương: "Phải đưa những người đã ở trong Uỷ ban nhân dân có năng lực hành chính ra ứng cử", và giới thiệu những thân hào có tài, có đức ra ứng cử và cùng đứng chung một sổ quốc gia liên hiệp với các người ứng cử của Việt Minh.

    Tại Hà Nội. 118 Chủ tịch các Uỷ ban nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị: "Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư trả lời đồng bào ngoại thành Hà Nội như sau:

    "Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định.

    Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.

    Xin cảm tạ các đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới " .

    Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh ra ứng cử ở Thủ đô đã làm nức lòng nhân dân Hà nội và cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng của cách mạng, nhất là các báo nhưCứu Quốc của Việt Minh, Cờ giải phóng của Đảng Cộng sản Đông Dương (từ 12-1945 gọi là Sự thật của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương) đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh công khai đập tan sự xuyên tạc của kẻ thù, hướng dẫn dư luận, cổ vũ quần chúng và thông tin kịp thời về Tổng tuyển cử trong cả nước. Đặc biệt là tờ nhật báo Quốc Hội chỉ ra trong kỳ Tổng tuyển cử đã ra đời nhằm mục đích: "1. Định rõ giá trị cuộc Tổng tuyển cử đối với ngoài nước và trong nước; 2. Giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho người công dân Việt Nam hiểu quyền hạn và bổn phận của mình trong khi chọn và cử người đại biểu vào Quốc hội; 3. Giúp các bạn ứng cử một cơ quan vận động chung để giới thiệu thành tích, khả năng và chương trình của mình". Báo ra được 15 số. Số 1 ra ngày 17-12-1945 và số cuối - số đặc biệt ra ngày 6-1-1946.

    Càng gần đến ngày Tổng tuyển cử, không khí càng náo nức, sôi nổi. Một số địa phương, nhất là ở phía Nam, do lệnh hoãn không đến kịp, nên Tổng tuyển cử vẫn tiến hành như kế hoạch đã định trước là ngày 23-12-1945. Tin Tổng tuyển cử diễn ra tưng bừng ở những nơi đó được đăng tải kịp thời trên các báo chí làm tăng thêm không khí chính trị sôi động của cả nước hướng đến ngày 6-1-1946.

    Tại các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, việc tuyên truyền vận động Tổng tuyển cử đã diễn ra bằng nhiều hình thức phong phú thể hiện những nét văn hoá đặc sắc, đa dạng của mỗi dân tộc. Hàng nghìn đồng bào Kinh, mường, Thái, Tày, Nùng, Dao... ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Cào Bằng, Lạng Sơn... đã kéo về tỉnh lỵ, châu lỵ và trụ sở chính quyền mít tinh hoan nghênh tổng tuyển cử, ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, đả đảo thực dân Pháp xâm lược. Những cuộc mít tinh đó thường biến thành những cuộc tuần hành kéo về các thôn xóm cổ động cho Tổng tuyển cử. Các bản làng xa xôi hẻo lánh nhưthức dậy với những tiếng cồng chiêng rộn ràng đón chào ngày hội lớn của dân tộc. Việt Kiều ở xa tổ quốc như ở Pháp, Thái Lan, Lào... cũng mít tinh, hội họp, gửi thư điện hướng về quê hương theo dõi, hoan nghênh Tổng tuyển cử và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào Chủ Tịch Hồ Chí Minh, hứa kiên quyết phụng sự Tổ quốc.

    Ngày 3-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời để kiểm tra lần cuối cùng công việc chuẩn bị Tổng tuyển cử.

    Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Toàn văn như sau:

    "Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946.

    Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

    Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mại là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

    Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mắt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một là phiếu cũng có sức lực nhưmột viên đạn.

    Ngày mai, Quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:

    Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,

    Kiên quyết chống bọn thực dân,

    Kiên quyết tranh quyền độc lập.

    Ngày mai dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

    Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

    Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà. Vì lợi chung, quên lợi riêng.

    Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

    Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.

    Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hướng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do".

    Cũng trong ngày này, buổi chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham dự cuộc mít tinh lớn của hơn hai vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội tại Việt Nam học xá để chào mừng Tổng tuyển cử.

    Và ngày chủ nhật 6-1-1946 đã đến. Từ sáng sớm, báo Sự thật đã phát lời kêu gọi nhân dân: "Tất cả hãy đến thùng phiếu":

    "Hỡi quốc dân việt Nam !

    Ngày hôm nay, 6 tháng giêng năm 1946, là ngày đại hội của toàn thể nhân dân ta mà cũng là ngày đấu tranh hiếm có trong lịch sử đất nước.

    ... Tất cả công dân Việt Nam hãy bỏ phiếu để cải chính lời tuyên truyền gian dối của giặc Pháp và chỉ cho thế giới biết rằng: dân tộc Việt Nam đã giành được chính quyền từ tay phát xít Nhật, đang xây dựng nền dân chủ cộng hoà và đang kháng chiến chống cuộc xâm lược dã man của Thực dân Pháp...

    Tất cả công dân Việt Nam hãy bỏ phiếu để chỉ cho các nước liên hợp thấy rằng: dân tộc Việt Nam muốn hoàn toàn độc lập và đã đủ trình độ hưởng hoàn toàn độc lập; dân tộc Việt Nam đang tự mình thi hành nguyên tắc dân tộc tự quyết và dân tộc bình đẳng mà các nước liên hợp đã trịnh trọng tuyên bố ở Cựu Kim Sơn....

    Tất cả công dân Việt Nam hãy bỏ phiếu để gây thêm tin tưởng cho toàn thể dân tộc vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc và để đập tan luận điệu hoài nghi, phản động của bọn thất bại và bọn Việt gian.

    Hỡi quốc dân Việt Nam !

    Lá phiếu của chúng ta rất có ý nghĩa. Hãy dùng nó để nói lên tất cả ý nguyện của mình, để phát biểu những chính kiến của mình bấy nhiêu năm đã bị kìm hãm trong đáy lòng, dưới chế độ thực dân Pháp.

    Chúng ta muốn dựng một nước Việt Nam cộng hoà dân chủ thì hôm nay đi bỏ phiếu là đặt một viên gạch xây đắp nền cộng hoà dân chủ.

    Chúng ta ớc ao độc lập, tự do thì hôm nay đi bỏ phiếu là dịp chúng ta hưởng phần độc lập, tự do.

    Chúng ta cảm phục các chiến sĩ ngoài mặt trận đang hy sinh vì Tổ quốc, thì hôm nay đi bỏ phiếu là một dịp chúng ta ủng hộ các chiến sĩ đang chiến đấu cho Tổ quốc.

    Chúng ta thường ớc ao đánh tan giặc Pháp, thì hôm nay đi bỏ phiếu là một dịp đánh giặc Pháp ngay tại chỗ.

    Tổ quốc đau thương, tim ứa máu, nhưng chí vô cùng cương quyết, đang hô các chiến sĩ xông tới và vẫy tay gọi toàn quốc nhân dân tiến đến thùng phiếu...".

    Báo Quốc Hội, số đặc biệt ngày 6-1-1946 đã trân trọng in ở trang đầu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả bút tích lời kêu gọi của Người: "Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta".

    Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, bằng cả ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành được, và bằng cả niềm vui sướng cao độ háo hức chuẩn bị chờ đợi bấy lâu nay, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn cho ngày lịch sử vĩ đại - ngày 6-1-1946: toàn dân đi bỏ phiếu!

    Tại Hà Nội, trung tâm của cả nước, nơi hàng ngày diễn ra các sự kiện trọng đại ảnh hưởng đến vận mệnh của cả dân tộc, nơi có Chủ tịch Hồ Chí Minh ra ứng cử, nhân dân thủ đô đã hăng hái tham gia Tổng tuyển cử bất chấp sự phá hoại của kẻ thù. Đúng 7 giờ sáng, tiếng chuông, tiếng trống các nhà thờ, chùa chiền, tiếng pháo nổ vang trên khắp các phố phường kéo dài tới 15 phút báo hiệu giờ Tổng tuyển cử bắt đầu. Cuộc Tổng tuyển cử ở Hà Nội diễn ra tràn đầy phấn khởi và được chuẩn bị tổ chức chu đáo. Mỗi khu vực bỏ phiếu đều có sáng kiến riêng trong cách tổ chức hợp lý. Từ lối vào, lối ra cho người đi bỏ phiếu, chỗ soát thẻ đi bầu, chỗ viết phiếu bầu, nơi ghi số những người đi bầu..., hết thảy đều xếp đặt khoa học. Hàng chục vạn cử tri Thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân. Cuộc bỏ phiếu diễn ra rất nhanh, tấp nập nhất từ 7 giờ đến 10 giờ sáng. Có nơi mới đến 11 giờ, trong số ngót 2.000 cử tri, đã có tới gần 1.500 người đi bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng chục vạn cử tri đi làm nghĩa vụ công dân. Người đã đi bầu đại biểu ở phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ). Sau đó, Người còn đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thuỵ Khuê, làng Hồ Khẩu, và Ô Đống Mác. Có những cụ già 70, 80 tuổi được con cháu cõng đi bỏ phiếu, nhiều người mù nhờ người nhà dẫn đến tận hòm phiếu để tự tay mình làm nhiệm vụ công dân. ở khu Ngũ Xá, bọn phản động huy động một lực lượng đông có vũ trang cả súng liên thanh đến ngăn cản dân phố đi bầu cử, cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt hòm phiếu. Nhân dân không chịu khuất phục kéo cả sang khu Nguyễn Thái Học gần đó để bỏ phiếu. Kết quả 172.765 trong tổng số 187.880, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội thành và 118 làng ngoại thành Hà Nội đã đi bỏ phiếu. 6 trong số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Người trúng cử thấp phiếu nhất là 52,5%; người đạt phiếu cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh được 169.222 phiếu, tức 98,4%.

    Ở các địa phương khác trong cả nước, cuộc Tổng tuyển cử cũng được tiến hành sôi nổi. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dầu phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng nói chung Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Tuy nhiên, ở một vài nơi, đã xảy ra xung đột đổ máu. ỞHải Phòng, tại khu vực Nhà hát lớn, quân tướng xông vào cướp súng tự vệ đang làm nhiệm vụ bảo vệ hòm phiếu. Lực lượng tự vệ đã phải nổ súng cảnh cáo. Viện vào cớ đó, chúng huy động lực lượng đến cướp hòm phiếu. Công an xung phong và tự vệ chiến đấu phải giằng co bảo vệ thùng phiếu. Chúng bắt của ta 16 công an và 40 tự vệ, hành hung dã man nhiều người, trong đó, có đội trưởng công an. Hàng vạn người mít tinh biểu tình phản đối buộc chúng phải thả những người bị bắt. Tại Tràng Kênh, chúng cũng cướp hòm phiếu, đánh trọng thương tự vệ. Ở nhiều nơi, hòm phiếu phải di chuyển nhiều lần. Mặc dầu vậy, Hải Phòng vẫn có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu .

    Đặc biệt ở các tỉnh phía Nam, nhất là Nam Bộ, cuộc bầu cử đã diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của kẻ thù. Ngay từ cuối tháng 10-1945, sau khi được tăng cường lực lượng, thực dân Pháp đã phá được vòng vây đánh rộng ra khắp các tỉnh Nam bộ. Cuối tháng 11-1945, chúng chiếm các thị xã, đường giao thông chiến lược, vùng đồn điền cao su ở các tỉnh miền Đông, miền Trung và một phần miền Tây Nam bộ. Đồng thời, chúng đổ bộ lên Nha Trang, từ đó đánh rộng ra các tỉnh Nam Trung bộ và vùng rừng núi Tây Nguyên hòng thôn tính toàn bộ miền Nam nước ta từ vĩ tuyến thứ 16 trở vào. Trong tình hình đó, cuộc Tổng tuyển cử ở các tỉnh phía Nam, trừ những vùng địch chưa tiến đến, vẫn diễn ra bình thường, còn nói chung rất khó khăn, quyết liệt. Nhân dân miền Nam đi bỏ phiếu bầu Quốc hội lúc này là thể hiện ý chí độc lập thống nhất, kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, bảo vệ tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy, nhân dân đi bỏ phiếu rất đông, bất chấp bom đạn của giặc Pháp. Nhiều nơi nhân dân phải đổi cả xương máu để thực hiện quyền tự do, dân chủ của mình. Tại Sài Gòn - Chợ lớn, quân Pháp đã chiếm toàn bộ thành phố và các vùng xung quanh. Tiếng súng kháng chiến vẫn tiếp tục nổ ra dưới nhiều hình thức như diệt tề trừ gian, tập kích, đốt phá kho tàng của địch... Tổng tuyển cử ở đây đã diễn ra dưới sự lùng ráp khủng bố gay gắt của kẻ thù. Uỷ ban hành chính thành phố mặc dầu phải chuyển ra ngoại ô phía Tây Nam nhng vẫn bám sát chỉ đạo nhân dân nội thành và ngoại thành tiến hành Tổng tuyển cử. Hàng trăm cán bộ chính quyền, đoàn thể, chiến sĩ làm công tác tuyển cử đã chia ra các ngả, bám sát từng khu phố, từng xóm lao động, từng người dân để lập danh sách cử tri, tuyên truyền vận động bầu cử. Không có nơi bỏ phiếu cố định. Mỗi hộ (tương đương với phường hiện nay), kể cả những hộ ở trung tâm thành phố, có từ 3 đến 4 hòm phiếu lưu động được chuyển tới từng ngõ, từng nhà cho đồng bào bỏ phiếu. Cả Sài Gòn - Chợ Lớn có hàng trăm hòm phiếu như vậy. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, 42 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tổng tuyển cử, trong đó có Nguyễn Văn T, cán bộ Tổng công đoàn. Tại Nha Trang, Pháp dùng máy bay ném bom để khủng bố nhân dân, làm 4 người chết, trong đó, có một em nhỏ 2 tuổi và 12 người bị thương. Nhưng dân chúng vẫn bình tĩnh đi bỏ phiếu. Ngay tại làng Phước Thành, nơi bị địch ném bom, số cử tri đi bỏ phiếu vẫn tới trên 90%. Chiến sĩ bỏ phiếu ở ngay trận tuyến, người bị thương bỏ phiếu ở ngay bệnh viện. Tại Tân An, máy bay Pháp xả súng bắn vào nơi quần chúng đi bỏ phiếu, làm 14 người chết và nhiều người bị thương; nhiều nơi phải bỏ phiếu ban đêm; vậy mà có trên 90% cử tri đi bỏ phiếu. ở Mỹ Tho, ngày bầu cử, máy bay Pháp bắn phá dữ dội suốt ngày, rà theo khắp các kênh rạch. Nhưng tại Mỹ Hạnh Đông, cán bộ ta vẫn chèo xuồng, chèo tam bản, đánh trống chở hòm phiếu len lỏi vào tận các mương xứ rạch nhỏ, nơi đồng bào tản cưđể đồng bào bỏ phiếu. Ởlàng Đông Thành, quận Trà Ôn (Cần Thơ), có 2.188 cử tri, buổi sáng, máy bay địch đến đánh phá, đến chiều, vẫn có tới 1.827 người đi bỏ phiếu. Ở làng Mỹ Hoà, sáng sớm, giặc Pháp đã vào lùng sục khắp làng, bắn chết 13 người, trong đó, có một em bé bị giặc bắn, ném xuống sông, nhưng đến chiều vẫn có 1.927 cử tri trong tổng số hơn 2.500 cử tri đi bỏ phiếu. ở làng Thành Mỹ Hưng (Cần Thơ), có 4.288 cử tri, bất chấp địch đánh phá, vẫn có 4.209 người đi bỏ phiếu.

    Tại Tây Nguyên, ngay trước ngày Tổng tuyển cử, ngày 4-1-1946, thực dân Pháp đã dùng máy bay ném bom lửa xuống 3 làng Ra Đê để khủng bố dân chúng. Hôm sau, chúng lại tấn công vào một làng Ra Đê khác cách Buôn Ma Thuật 19 km, nhưng cuộc bầu cử vẫn được tiến hành. Nhìn chung, trừ tỉnh Tây Ninh, nơi chiến sự diễn ra rất ác liệt, thậm chí trước ngày bầu cử, một trong hai ứng cử viên đã bị địch giết hại nên không thực hiện bầu cử được, còn tất cả các tỉnh phía Nam đều tiến hành cuộc bầu cử với tuyệt đại đa số cử tri đi bỏ phiếu, trong đó, nhiều tỉnh còn đạt số cử tri đi bầu rất cao: Sa Đéc: 93,54%, Bạc Liêu: 90,77%. v.v..

    Nhìn chung ở cả 71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu các dân tộc thiểu số.

    Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời. Hoà nhịp cùng với bước tiến của thời đại, với sự hy sinh xương máu của bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, suốt gần một thế kỷ đấu tranh giải phóng dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã thành công dân của một nước độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự mình lựa chọn và dựng xây chế độ Cộng hoà dân chủ. Bằng cuộc Tổng tuyển cử, tất cả mọi công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên không phân biệt gái trai, dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo đều có quyền dân chủ, bình đẳng, tự do lựa chọn người đại diện cho mình vào Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử tháng 1-1946 đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.

    Quốc hội vừa là thành quả, vừa là yêu cầu đặt ra bức thiết của cách mạng. Quốc hội ra đời trong khói lửa của cuộc đấu tranh dân tộc gay gắt. Đó là Quốc hội lập quốc, Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền Trung Nam Bắc, là ý chí của nhân dân cả nước. Quốc hội đã có đại diện của tất cả thế hệ những người Việt Nam yêu nước đơng thời, từ những nhà cách mạng lão thành đã từng bôn ba nơi hải ngoại, tử thách trong nhiều nhà tù đế quốc nhưHồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng..., cho đến những đại biểu trẻ tuổi đang tràn đầy nhiệt huyết (người trẻ tuổi nhất là Nguyễn Đình Thi 22 tuổi). Quốc hội đã hội tụ đại biểu của tất cả các ngành, các giới, các giai cấp tầng lớp xã hội từ công nhân, nông dân, nam giới, nữ giới cho đến những nhà tư sản, công thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô..., những nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hoá nổi tiếng như Nguyên Văn Tố, Hoàng Đạo Thuý, Thái Văn Lung, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Thai Mai..., Quốc Hội cũng hội tụ đại biểu của các thành phần tôn giáo trên đất nước ta như Thiên Chúa giáo (Linh mục Phạm Bá Trực), Phật giáo (Thượng toạ thích Mật Thể), Cao Đài (Chưởng quản Cao Triều Phát)..., của tất cả các thành phần dân tộc, từ đa số đến thiểu số như Mường, Tầy, Nùng, Thái, Mèo, Hán, Ba Na, Ka Tu, Ra Đê, Ê Đê, Gia Rai, Khơ Me...; của tất cả những người không đảng phái và các đảng phái chính trị nhưĐảng Cộng sản, Đảng dân chủ, những đảng viên Xã hội cùng những người tiến bộ trong các phái chính trị khác (Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng...). Đây là sự hội tụ đại biểu của tất cả các thành phần xã hội và dân tộc trên mọi miền đất nước trong Quốc hội, kể cả sự có mặt của Vĩnh Thuỵ, tức cựu hoàng Bảo Đại, người vừa mới tuyên bố thoái vị trước đó 4 tháng để làm công dân của nước Việt Nam tự do và những người vốn là quan lại cao cấp của chế độ cũ như cựu Thượng thưBùi Bằng Đoàn....

    Thắng lợi Tổng tuyển cử đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ, và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có tính chất hợp pháp, dân chủ - nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến và kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế . Thắng lợi của Tổng tuyển cử, nhưChủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên, là "kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc ".

    Thắng lợi Tổng tuyển cử đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Tổng tuyển cử diễn ra trong điều kiện cách mạng đứng trước thử thách ngàn cân treo sợi tóc, khó khăn chồng chất khó khăn; lại diễn ra trong điều kiện nhân dân ta vừa thoát khỏi cuộc đời nô lệ của hàng nghìn năm phong kiến và gần trăm năm thuộc địa. Trong điều kiện như thế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quyết định Tổng tuyển cử. Đó là một quyết định dũng cảm, táo bạo, kịp thời, chủ động và nhạy bén. Dũng cảm và táo bạo bởi vì hiếm có một cuộc cách mạng nào trên thế giới vừa mới thành công đã bắt tay ngay vào việc tiến hành Tổng tuyển cử trong một điều kiện khó khăn bề bộn, nguy hiểm và éo le như vậy. Hoàn cảnh cách mạng Việt Nam năm 1946 đòi hỏi phải kịp thời vì nếu càng để chậm trễ, tình hình sẽ càng phức tạp, nhất là khi chiến tranh lan rộng ra cả nước thì khó có cơ hội tiến hành Tổng tuyển cử. Quyết định Tổng tuyển cử là dũng cảm, táo bạo, nhưng không phải phiêu lưu mạo hiểm mà xuất phát từ bản lĩnh chính trị sắc bén, khoa học và thực tiễn sâu sắc. Bởi vì Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân, một nhân dân có truyền thống yêu nước, được cách mạng giác ngộ, vừa vùng dậy "một ngày bằng hai mươi năm" làm nên thắng lợi của cách mạng Tháng Tám. Một nhân dân như thế nhất định sẽ có đủ bản lĩnh chính trị và trí sáng suốt để làm trọn nhiệm vụ thiêng liêng của người công dân xây dựng chế độ mới. Sự vĩ đại của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là đã biết khơi nguồn và tổ chức nhân lên gấp bội lần sức mạnh đó để làm nên thắng lợi. Thực tiễn nhân dân đã kiên quyết ủng hộ Tổng tuyển cử, bảo vệ triệt để Tổng tuyển cử, hăng hái tham gia Tổng tuyển cử, hy sinh cho Tổng tuyển cử, sáng suốt trong bầu cử. Tổng tuyển cử là thể hiện lòng yêu nước, là kháng chiến kiến quốc, là xây dựng chế độ mới,

    Lúc này cũng tương tự nhưthời kỳ Cách mạng Tháng Tám, số đảng viên cộng sản không quá 5.000 người, một số rất nhỏ trong cộng đồng dân tộc. Hơn nữa, Đảng phải rút vào hoạt động bí mật, lại bị kẻ thù công khai vu khống xuyên tạc. Nhưng Tổng tuyển cử, một cuộc Tổng tuyển cử do Chính Đảng tổ chức lãnh đạo đã hoàn toàn thắng lợi. Thắng lợi đó, suy cho cùng, là Đảng đã biết dựa chắc vào nhân dân, bắt rễ sâu trong lòng dân tộc. Đường lối của Đảng đã phản ánh được những khát vọng sâu xa nhất, bức thiết nhất của nhân dân và dân tộc. Với lãnh tụ kiệt xuất là Chủ tịch Hồ Chí Minh, và thông qua Việt Minh, một tổ chức quần chúng rộng lớn do chính mình tổ chức lãnh đạo, Đảng vẫn giữ vững được vai trò lãnh đạo trong nhân dân. Ngược lại, bằng hành động thực tế, nhân dân đã tuyệt đối tin tưởng và xiết chặt đội ngũ xung quanh Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh. Rõ ràng, sự lãnh đạo của Đảng trong suốt 15 năm để làm nên thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, sự hy sinh chiến đấu quên mình của những người cách mạng đã tạo tiền đề chính trị cho Tổng tuyển cử thắng lợi. Đó là những bài học vô cùng quý báu mà cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã đem lại.
     
  4. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    QUỐC HỘI VỚI SỰ NGHIỆP ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT DÂN TỘC
    CHỐNG GIẶC NGOÀI THÙ TRONG, XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ
    CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1/1946 - 12/1946)


    1. Quốc hội với việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến (3-2-1946)

    Sau thắng lợi của Tổng tuyển cử, tình hình chính trị ở nước ta có những diễn biến phức tạp mới.

    Ở miền Nam, cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp lan rộng đến cả Tây Nguyên và miền Nam Trung Bộ, nhiều mặt trận bị vỡ. Cuộc kháng chiến đang gặp những khó khăn mới. Ở miền Bắc, quân Pháp từ Vân Nam trở lại chiếm Lai Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ và một số nơi ở Tây Bắc. Thực dân Pháp còn mở rộng xâm lược sang cả Campuchia và Lào - Việt Quốc, Việt Cách đã khai thác triệt để tình hình khó khăn phức tạp trên để gây sức ép với chính quyền cách mạng. Theo bản "Biện pháp đoàn kết" ký giữa Việt Minh với Việt Quốc, Việt Cách thì Chính phủ liên hiệp lâm thời thành lập từ ngày 1-1-1946 sẽ làm việc cho đến khi triệu tập Quốc hội (Điều 1, Điều 4) và Quốc hội có nhiệm vụ thảo Hiến pháp, thành lập Chính phủ quốc gia liên hiệp chính thức, quy định nhiệm kỳ của Chính phủ ấy (Điều 4, Điều 5 và Điều 6). Vậy mà chưa đầy 10 ngày sau khi thành lập, dưới cái vỏ "để thống nhất mọi lực lượng chống xâm lăng", trên tờ Việt Nam số 46, 47 ra ngày 9-1-1946, Việt Quốc đã công khai kêu gọi giải tán Chính phủ liên hiệp lâm thời và Chính phủ liên hiệp quốc gia chính thức cần phải thành lập ngay, dẫu rằng chưa triệu tập được Quốc hội ! cũng báo đó, số 48 ngày 10-1-1946, lại đòi hỏi: "Chính phủ liên hiệp quốc gia lâm thời còn đợi đến bao giờ mới giải quyết vấn đề thực dân Pháp ? liệu có giải quyết được không ? Nếu không thì mau mau rút lui"! "Dân chúng đương hoang mang và mong thành lập ngay một Chính phủ liên hiệp quốc gia chính thức"! ... Tiếp theo luôn mấy kỳ báo, Việt Quốc kích động vấn đề này và rêu rao Chính phủ liên hiệp lâm thời là Chính phủ Việt Minh cộng sản hơn cả Nga (Việt Nam, số 50, 12-1-1946). Họ còn trâng tráo viết: "Tổ quốc chưa cần đến mấy trăm ông nghị rút lui từ các nẻo về kinh đô với hai bàn tay trắng" (Việt Nam, số 51, 13-1-1946). Cùng với báo Việt Nam, tờ Thiết Thực còn đưa cả những người đã tham gia vào nội các Trần Trọng Kim để đề nghị quốc dân lựa chọn vào Bộ Nội vụ và Quốc phòng của Chính phủ chính thức sắp tới. Họ muốn làm mất tín nhiệm của Chính phủ, gây rối ren hoang mang trong dân chúng, đẩy tình hình đến một cuộc khủng hoảng chính trị nhằm thủ tiêu trên thực tế kết quả Tổng tuyển cử và gây sức ép đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh để tranh thêm các ghế trong Chính phủ chính thức, hòng làm biến chất nhà nước cách mạng bằng biện pháp "hoà bình". Họ biết rõ rằng, tình hình chính trị càng ổn định, nhất là khi quân Tướng rút về nước, thì số phận của họ sẽ rất gay go. Thành lập Chính phủ liên hiệp thống nhất ngay không cần họp Quốc hội có nghĩa Tổng tuyển cử và Quốc hội là vô nghĩa, là bất chấp ý chí, nguyện vọng của nhân dân và những điều sơ đẳng nhất về mặt pháp lý của một nhà nước độc lập có chủ quyền. đáp lại những đòi hỏi vô lý và phá hoại của Việt Quốc, Việt Cách, báo Sự thật của Đảng (số 11, 10-1-1946) đã viết: "Anh em (tức Việt Quốc, Việt cách-TG) làm như thể Chính phủ từ 4 tháng nay chưa từng làm gì để chống thực dân Pháp cả. Đợi được anh em lên tiếng thì có lẽ Hà Nội đã mất rồi! Vả lại Chính phủ liên hiệp lâm thời thành lập chưa đầy 10 ngày, ít ra anh em cũng gắng đợi cái Chính phủ ấy làm việc đã chứ !" ... "và không lý nào cụ Nguyễn Hải Thần, bác sĩ Trương Đinh Tri và ông Nguyễn Tường Long vừa được anh em cử vào Chính phủ ấy lại "hoá đỏ" nhanh chóng thế!". Còn về việc họp Quốc hội, báo Sự Thật viết: "Cần hiểu rằng theo thể lệ Tổng tuyển cử ban hành ngày 17-10-1945 và theo hoan cảnh giao thông hiện nay, cuộc Tổng tuyển cử muốn hoàn thành ít nhất cũng phải 2 tháng nữa, kể từ ngày 6-1-1946, ngày Tổng tuyển cử lần đầu tiên" ."Bởi vì Tổng tuyển cử có một số nơi phải bầu bổ sung: Muốn bầu lại, ít nhất cũng phải 2 tuần sau ngày 6-1-1946. Bầu lại xong còn kiểm phiếu, yết danh những người trúng cử, đợi xem có ai khiếu nại điều gì không, đợi xử xong những vụ khiếu nại ấy; những việc ấy chiếm ít nhất là 4 tuần lễ. Rồi danh sách các nhà trúng cử phải từ các tỉnh đệ trình về Chính phủ để Chính phủ lại triệu tập; và như thế cũng phải mất 2 tuần lễ nữa. Cuối cùng phải đợi đại biểu các tỉnh từ Cà Mau, Hà Tiên, ra tới Hà Nội. Nhanh lắm tháng ba tới, Quốc hội mới có thể khai mạc". Báo Sự Thật kêu gọi họ "tôn trọng ý nguyện của 95 phần trăm công dân Việt Nam khắp nước đã đi bỏ phiếu trong ngày Tổng tuyển cử vừa qua, gắng đợi và thành lập Chính phủ liên hiệp quốc gia chính thức vào ngày triệu tập Quốc hội. Và trong khi chờ đợi ngày triệu tập Quốc hội để thành lập Chính phủ liên hiệp quốc gia chính thức, anh em nên gắng sức cùng toàn thể đồng bào ủng hộ hai cụ Chánh, Phó Chủ tịch và Chính phủ liên hiệp lâm thời trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc".

    Trong khi đó, Đảng và Chính phủ đã cố gắng hoàn tất mọi công việc chuẩn bị để tiến tới kỳ họp thứ nhất của Quốc hội một cách khẩn trương, chu đáo, thể hiện sự tôn trọng quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời tránh bất cứ một sơ hở nhỏ nào để kẻ thù có thể lợi dụng xuyên tạc. Cũng thông qua báo Sự Thật, Đảng đã kêu gọi "hãy gấp rút chuẩn bị mở Quốc hội" . "Các vị đại biểu hãy gấp rút sửa soạn đi dự Quốc hội. Muốn thế, đại biểu tỉnh nào nên mở ngay những cuộc khai hội rộng rãi với đồng bào tỉnh ấy, đặng thảo luận về Hiến pháp và thu thập ý kiến dân, dân nguyện, về ngoài Hiến pháp nữa". Đồng thời "việc sửa soạn mở Quốc hội không phải là việc riêng của những đại biểu. Nó phải là việc chung của cả dân tộc. Vậy các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân hãy cùng các đại biểu mở những cuộc khai hội thảo luận lấy những ý kiến chung trao cho các đại biểu mang lên Quốc hội. Các vị đại biểu thu thập những bản dân nguyện hãy xếp dọn những ý kiến trong đó vào từng vấn đề để cho công việc thảo luận và giải quyết của Quốc hội được mau chóng và hợp lý". Trên tinh thần chung đó, bài báo còn gợi ý ra một loạt các vấn đề cụ thể để nhân dân thảo luận cho ý kiến như: Về kinh tế tài chính, chế độ thuế khoá, cải cách và giảm nhẹ địa tô, chế độ công điền công thổ, tiền lương, lập quốc gia Ngân hàng và phát hành giấy bạc, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp sửa chữa đê điều, đưòng xá, cầu cống...; về chinh trị, Hiến pháp và bộ luật mới, các vấn đề đảng phải, ban hành các quyền tự do dân chủ, bài trừ nội phản, trừng trị Việt gian, quyền hạn giữa các Uỷ ban công nhân, Uỷ ban viên chức và Uỷ ban giám đốc trong các nhà máy, công sở, định chính sách ngoại giao, chế độ kiều dân ngoại quốc...; về quân sự và kháng chiến, tổ chức quân đội, động viên kháng chiến và hậu cần, đặt đảm phụ đặc biệt về quốc phòng ...; về văn hoá xã hội, chương trình và cách dạy học xoá nạn mù chữ, đào tạo cán bộ, soạn dịch sách gíáo khoa, gửi học sinh đi học nước ngoài, lập Viện văn hoá và Viện hàn lâm, mở các thư viện và phòng thí nghiệm, khuyến khích văn học nghệ thuật, đặt các giải thưởng, chống nạn thất nghiệp và mãi dâm, tổ chức hài nhi viện và ấu trĩ viện, chấn chỉnh y tế, tổ chức giữ gìn vệ sinh... Theo phương hướng chung và cụ thể đó, các đại biểu trên khắp cả nước đã tích cực chuẩn bị để tiến tới kỳ họp lịch sử, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Nhân dân cả nước hướng tới Quốc hội. Trên các báo chí đã đăng tải nhiều bài về dân ý và dân nguyện, tranh luận trao đổi về nhiều vấn đề hệ trọng có quan hệ tới vận mệnh của đất nước.

    Càng gần đến ngày họp Quốc hội, tình hình chính trị càng hết sức phức tạp và căng thẳng. Đến cuối tháng 2-1946, quân Anh đang rút khỏi nước ta.Quân Nhật bị tước vũ khí, đang lần lượt hồi hương. Quân Tưởng vẫn đóng từ bắc vĩ tuyến 16 trở ra. Sau khi được tăng viện, quân Pháp đã chiếm gần hết Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, hầu hết Campuchia và một vùng rộng lớn ở nước Lào. Chúng cũng chiếm được Lai Châu và một phần Sơn La. Cùng với việc ráo riết chuẩn bị cuộc hành quân mạo hiểm tập kích ra miền Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não cách mạng, chiếm lại toàn bộ nước ta, thực dân Pháp còn tìm mọi cách dàn xếp với Mỹ - Tưởng nhằm đưa quân ra xâm lược miền Bắc một cách hoà bình. Ngay sau khi phát động chiến tranh xâm lược ở Nam Bộ (23-9-1945), Đácgiăngliơ (d'Argenlieu) đã từ Ấn Độ bay sang Trùng Khánh để xin với Tưởng cho phép quân Pháp vào miền Bắc Đông Dương nơi quân Tưởng đang đóng. Cuộc mặc cả này kéo dài và bí mật mãi tới ngày 20-2-1946 mới được hãng Roitơ của Anh tung ra trước dư luận thế giới. Theo bản hiệp ước ấy, Pháp sẽ nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi (cắt cho Tưởng đường xe lửa Hà Nội - Vân Nam phần trên đất Trung Quốc và một "khu tự do" ở cảng Hải Phòng, trả cho Tưởng một số tô giới...) để được Tưởng nhường cho Pháp mang quân ra miền Bắc Đông Dương dưới danh nghĩa thay thế quân Tưởng tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật.

    Tuy nhiên, chiến tranh ở Nam Bộ đã cho thực dân Pháp một bài học: Chúng không thể dễ gì cùng một lúc, vừa bình định miềm Nam, vừa đưa quân ra đánh chiếm Bắc Bộ. Ngay trong chính giới Pháp, nhiều người cũng nhận thấy muốn bình định chỉ riêng Nam Bộ cũng cần đến hàng chục vạn quân, trong khi đó, ở Nam Bộ, chúng mới có 65 nghìn quân (15% là lính bản xứ). Mặc dầu đã được Tưởng đồng ý, nhưng chúng biết rằng không thể đưa quân ra miền Bắc qua mặt chính quyền cách mạng một cách đơn giản. Hạ tuần tháng 2, Pháp đã đề nghị với Chính phủ Việt Nam mở cuộc đàm phán chính thức. Trước tình hình đó, Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương "nên nói chuyện với Pháp nhưng đồng thời phải chuẩn bị kháng chiến". Đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Pháp đã có những cuộc tiếp xúc với nhau. Trong cuộc gặp J.Xanhtơni (J.Saimteny) ngày 25-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại lập trường của Việt Nam trong quan hệ Việt-Pháp là "độc lập và hợp tác". Còn J.Xanhtơni nói rõ nước Pháp có thể công nhận nước Việt Nam có Chính phủ, Nghị viện, quân đội, tài chính riêng nhưng là một nước tự trị trong Liên hiệp Pháp. Hai bên đều thấy phải tạo một không khí hoà dịu, trước lúc mở cuộc thương lượng Việt-Pháp. Giữa lúc đó, bản Hiệp ước Pháp-Hoa đã được ký kết tại Trung Khánh ngày 28-2-1946. Hiệp ước đó chính là sự mua bán về quyền lợi ở Việt Nam của chính quyền Tưởng Giới Thạch với thực dân Pháp, là sự chà đạp thô bạo chủ quyền độc lập của Việt Nam. Lòng công phẫn của nhân dân đã lên đến cực điểm, sẵn sàng cầm vũ khí đứng dậy kháng chiến chống thực dân Pháp - kẻ thù đã từng dầy xéo đất nước Việt Nam suốt 80 năm vừa bị lật đổ - một khi chúng quay trở lại xâm lược. Tàu chiến Pháp đã vào Vịnh Bắc Bộ, không khí chuẩn bị kháng chiến khẩn trương... Quan hệ Việt - Pháp đang đứng bên bờ vực chiến tranh. Việt Quốc, Việt Cách khai thác triệt để tâm lý và lòng yêu nước chân thành của quần chúng hòng kích động nhân dân lao vào cuộc chiến đấu bất lợi, để nhân cơ hội lật đổ chính quyền cách mạng. Chúng tổ chức biểu tình, dùng lời lẽ mị dân lừa bịp, rải truyền đơn công khai kêu gọi nhân dân lật đổ Chính phủ, đánh Pháp bằng bất cứ giá nào, chống mọi cuộc đàm phán với Pháp, thậm chí còn vu cáo Chính phủ Việt Nam là "bán nước"! Nhân dân Hà Nội vô cùng phẫn nộ, đã xuống đường biểu tình ủng hộ Chính phủ. Dân phố mở toang cửa, treo cờ đỏ sao vàng và tiếp tục công việc hằng ngày để trả lời bọn khiêu khích doạ nạt, bắt ép nhân dân đóng cửa, tổng đình công. Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh ra lời hiệu triệu kêu gọi toàn dân bình tĩnh, sẵn sàng chuẩn bị kháng chiến.

    Kỳ họp đầu tiên của Quốc Hội khoá I được triệu tập trong tình hình khẩn trương, căng thẳng như vậy.

    Để chuẩn bị cho kỳ họp đầu tiên của Quốc Hội, Hội đồng Chính phủ họp ngày 7-1-1946 đã quyết định: Quốc hội sẽ khai mạc ngày chủ nhật 3-3-1946 và lập một ban chỉ huy công việc sửa soạn triệu tập Quốc hội gọi là "Uỷ ban trù bị khai Quốc hội", gồm các ông: Võ Nguyên Giáp, Nguyên Tường Long, Vũ Đình Hoè, Cù Huy Cận, Dương Đức Hiền. Hội đồng Chính phủ cũng dự kiến các nơi họp của Quốc Hội. Đặc biệt, Hội đồng Chính phủ đã nêu vấn đề các Đảng phái cần gặp nhau để bàn cách tổ chức lại Chính phủ và phân chia các ghế Bộ trưởng. Tại phiên họp của Hội đồng ngày 21-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo sẽ lập Chính phủ kháng chiến gồm 10 bộ - có bốn đảng phái tham gia, mỗi đảng giữ hai bộ. Bộ Nội vụ và Quốc phòng sẽ do hai người trung lập giữ; lập Uỷ ban kháng chiến và Đoàn cố vấn.

    Ngày 25-2-1946, sau nhiều lần thương lượng, hội nghị liên tịch giữa Việt Minh, Dân chủ, Việt Quốc, Việt Cách đã thống nhất:

    1. Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức gồm 10 bộ: Bộ Quốc phòng và Nội vụ để người không đảng phái nắm; các Bộ Tài chính, Giao thông công chính, Giáo dục, Tư pháp do Việt Minh và Dân chủ nắm; các Bộ ngoại giao, Kinh tế, Xã hội, Canh nông do Việt Quốc, Việt Cách nắm. Để tỏ rõ tính chất thống nhất quốc gia của Chính phủ liên hiệp, hai Bộ giao thông công chính và Canh nông sẽ dành cho đồng bào Nam Bộ. Trong khi đại biểu Nam bộ chưa tựu chức, Bộ Giao thông công chính sẽ do Việt Minh hay Dân chủ phụ trách; Bộ Canh nông sẽ do Việt Quốc hay Việt Cách phụ trách.

    2. Thành lập Uỷ viên kháng chiến hội để chuyên lo việc kháng chiến.

    3. Thành lập quốc gia cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ làm đoàn trưởng bao gồm các vị có đạo đức, kinh nghiệm để giúp ý cho Chính phủ. Tên tất cả thành viên trong các cơ quan trên sẽ công bố sau khi Quốc hội công nhận. Rõ ràng đây là sự nhân nhượng lớn của ta để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, hạn chế sự phá hoại của các thế lực phản động tay sai, nhằm đối phó với kẻ thù chính lúc đó là thực dân Pháp.

    Cuối tháng 2-1946, các đại biểu Quốc hội đã tập trung về Hà Nội. Đề phòng bất trắc có thể xẩy ra do tình hình căng thẳng lúc đó, địa điểm để Quốc hội họp vừa chuẩn bị ở Hà Nội, vừa chuẩn bị ở làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Nhân dân Đình Bảng phấn khởi, chuẩn bị đón Quốc hội. Ngày 1-3-1946, Báo Sự thật của Đảng kêu gọi: "Mồng 3-3, hai hôm nữa Quốc Hội khai mạc. Lịch sử Việt Nam thêm một trang vẻ vang.

    Quốc hội họp, cắm một mốc lịch sử trên con đường tranh đấu giải phóng dân tộc. Phải 80 năm đổ máu chống Pháp thực dân, chống phát xít Pháp - Nhật, mới đến một ngày "Hội nghị non sông".'

    Quốc hội họp, nêu cao trước thế giới ý chí cương quyết giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Sau cách mạng Tháng Tám, một Chính phủ lâm thời tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Ngày nay, sự nghiệp, ý chí giành và giữ vững nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam đã được kết tinh trong một cơ quan quyền lực chính thức của nhân dân.

    Quốc hội họp đặt nền móng cho chủ quyền dân tộc. Vận mệnh nước Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam định đoạt thông qua đại biểu của chính mình.

    Quốc hội họp biểu thị sự đoàn kết của toàn dân: dù trong hoàn cảnh nào, nhân dân Việt Nam cũng quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập mới giành được. Đại biểu khắp đất nước mang về Thủ đô ý chí bốn phương kết thành một khối, vượt qua mọi trở lực, mọi âm mưu phá hoại trên đường cứu nước.

    Quốc Hội họp mở ra cho dân ta nhìn thấy ánh sáng tương lai: Một đời sống mới, một xã hội mới bắt đầu đặt nền móng trong những chương trình kiến quốc cấp bách.

    Để chủ động đối phó với tình hình chính trị đang diễn biến phức tạp và cần có một Chính phủ chính thức đủ tư cách và hiệu lực trong cuộc đàm phán ngoại giao với Pháp. Quốc hội đã họp sớm hơn một ngày.

    Sáng 2-3-1946, ngót 300 đại biểu Quốc hội đã tề tựu tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội. Một số đại biểu Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã lên đường song chưa đến kịp. Còn phần nữa vì bận công việc kháng chiến nên không ra họp được. Nguyễn Hải Thần lấy lý do sức khoẻ không đến dự. 8 giờ 40 phút, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đến. Chính giữa diễn đàn Nhà hát là lá cờ đỏ sao vàng, hai bên treo cờ các đảng phái và nổi bật khẩu hiệu "Kháng chiến - Kiến quốc". Ngô Tử Hạ là đại biểu cao tuổi làm Chủ tịch, Nguyễn Đình Thi và Đào Thiện Thi là hai đại biểu trẻ tuổi làm thư ký đoàn. Hơn một trăm bức điện của đồng bào khắp nơi trong nước gửi về chào mừng Quốc Hội và tin tưởng Quốc hội sẽ sáng suốt lãnh đạo quốc dân.

    Đúng 9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính Phủ liên hiệp lâm thời bước lên diễn đàn. Nhạc " Tiến quân ca" và "Hồn tử sĩ" được cử lên. Nhân danh Chính phủ liên hiệp lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí minh khai mạc toàn quốc đại hội đại biểu, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà do Tổng tuyển cử bầu ra.

    Mở đầu báo cáo trước Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ ý nghĩa thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã "tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí". Người đề nghị với Quốc hội mở rộng đại biểu ra thêm 70 người nữa. 70 người ấy dành cho các vị ở hải ngoại về: Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội. Tất cả các đại biểu đã giơ tay tán thành đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các đại biểu được Quốc hội công nhân nói trên được mời vào hội trường. Đánh giá về thành phần của Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: "Trong cuộc toàn quốc đại biểu đại hội này, các đảng phái đều có đại biểu mà đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế cho nên các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một Đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối" . Người báo cáo những công việc Chính phủ liên hiệp lâm thời đã làm trong 6 tháng qua. Những việc đó là:

    Thực hiện được sự đoàn kết toàn dân. "Vua cũng thoái vị để làm người bình dân của nước tự do. Vua Bảo Đại đã trở nên ông Vĩnh Thuỵ, tối cao cố vấn cho Chính phủ dân chủ cộng hoà Việt Nam" . Mặc dầu gặp nhiều khó khăn sau khi giành được chính quyền, "song nhờ ở sự ủng hộ nhiệt liệt của toàn thể đồng bào và lòng kiên quyết phấn đấu của Chính phủ, chúng ta đã làm được đôi việc:

    · Việc thứ nhất là ra sức kháng chiến.

    · Việc thứ hai là giảm bớt sự đói kém bằng cách thực hành tăng gia sản xuất.

    · Việc thứ ba là Chính phủ đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử.

    · Việc thứ tư là do kết quả cuộc Tổng tuyển cử ấy mà có Quốc hội hôm nay"

    Người nói tiếp: "Đồng thời Chính phủ cũng phải thừa nhận trước Quốc Hội là còn nhiều việc lớn lao hơn nữa nên làm, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên Chính phủ chưa làm hết." Gánh nặng đó "Chính phủ để lại cho Quốc hội, cho Chính phủ mới mà Quốc hội cử ra". Thay mặt Chính phủ cũ, Người hứa với Quốc hội, với Chính phủ mới và quốc dân sẽ "hết sức đem tài năng cống hiến cho Tổ quốc".

    Cuối cùng, Người nhấn mạnh: "Việc hệ trọng nhất bây giờ là kháng chiến" và tin tưởng rằng: "Từ giờ về sau, Quốc hội và Chính phủ còn có những gánh nặng nề, phải bước qua nhiều sự khó khăn, nhưng tôi chắc rằng Quốc dân sẽ nhất trí, dựa vào sức đoàn kết mà làm việc, và như thế thì dù có khó khăn đến đâu, kháng chiến sẽ thắng lợi và kiến quốc sẽ thành công". Do tình hình đặc biệt, Người đề nghị Quốc hội làm việc mau chóng và tuyên bố Chính phủ liên hiệp lâm thời xin trao quyền lại cho Quốc Hội để tổ chức một Chính phủ mới.

    Nguyễn Đình Thi thay mặt Quốc hội đọc đáp từ, nêu rõ những thành tích của Chính phủ liên hiệp lâm thời như sau:

    "Ngay sau khi thành lập, Chính phủ lâm thời phải đối phó với nhiều việc hết sức khó khăn. Thực dân Pháp xâm lược Nam bộ, miền Nam Trung bộ và biên giới Việt - Lào; nạn đói đe doạ Bắc bộ và miền Bắc Trung bộ; công quỹ trống không; của cải nhân dân bị đế quốc Pháp, Nhật vơ vét; kinh tế đình trệ, Chính phủ lâm thời lãnh đạo quốc dân vượt qua trở lực ấy. Mặt trận dân tộc thống nhất chống xâm lăng ngày một thêm vững, cuộc trường kỳ kháng chiến đem đến những kết quả đầu tiên. Bên trong, công cuộc tăng gia sản xuất cùng với những phương sách tài chính thích hợp đã gìn giữ đời sống cho dân. Đối với nước ngoài, đã gây được tình thân thiện.

    Chính quyền vừa giành được, nền dân chủ cộng hoà đã xây đắp ngay. Chế độ phổ thông đầu phiếu được thi hành, và cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng giêng năm 1946 đã thành lập nên Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam.

    Nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh,

    Nhờ sự ủng hộ và lòng hy sinh của toàn thể quốc dân,

    Chính phủ lâm thời đã làm được nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc trong tình thế nghiêm trọng của nước nhà".

    Cuối cùng, thay mặt toàn thể quốc dân, Quốc hội Việt Nam trịnh trọng cảm ơn Chính phủ lâm thời và tuyên bố Chủ tịch Hồ Chí Minh "xứng đáng với Tổ quốc". Toàn thể hội trường vang lên tiếng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt lời tuyên bố trên của Quốc hội. Tiếp đó, Ngô Tử Hạ, Chủ tịch kỳ họp, nhận lời từ chức của Chính phủ lâm thời. Toàn thể thành viên Chính phủ lâm thời bước xuống diễn đàn. Quốc hội bắt đầu thảo luận về thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Theo lời đề cử của Ngô Tử Hạ, Quốc hội đã giơ tay tán thành bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ, Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch và giao cho Chủ tịch và Phó Chủ tịch thành lập Chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội tạm nghỉ 15 phút để Người tổ chức Chính phủ mới.

    10 giờ, Quốc hội tiếp tục họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội gửi lời chào mừng tới các đại biểu Quốc hội miền Nam vắng mặt và báo cáo việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Người nói: "Chính phủ này ra mắt gồm có các đại biểu các đảng phái và các anh em không đảng phái, trước đây đã thương lượng và thoả thuận với nhau, vì vậy sự tổ chức mới được nhanh chóng như thế". Người trình bày danh sách Chính phủ liên hiệp, giới thiệu tóm tắt một số vị Bộ trưởng: danh sách Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội.

    Thành phần Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm:

    1- Chủ tịch Hồ Chí Minh

    2- Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần

    3- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam

    4- Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng

    5- Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng

    6- Bộ Trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến

    7- Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh

    8- Bộ trưởng Bộ Xã hội, kiêm

    Y tế, Cứu quốc và Lao động Trương Đình Tri

    9- Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Thai Mai

    10- Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Đình Hoè

    11- Bộ trưởng Bộ Giao thông

    Công chính Trần Đăng Khoa

    12- Bộ trưởng Bộ Canh nông Bồ Xuân Luật

    Cố vấn đoàn do cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ đảm nhiệm.

    Kháng chiến Uỷ viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch.

    Quốc hội công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội. Toàn thể đại biểu Quốc hội đứng dậy nhận lời thề của các cơ quan trên do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc. Sau lời tuyên thệ, Nguyễn Đình Thi, đại diện Quốc hội, đọc lời chào mừng Chính phủ mới:

    "Quốc hội Việt Nam xét rằng: Đứng trước tình thế nước nhà đang bị thực dân Pháp xâm lăng, cần phải thống nhất tất cả lực lượng của toàn thể dân tộc, và cần phải có một cơ quan điều khiển mạnh mẽ để kháng chiến đến đắc thắng", Quốc hội quyết định công nhân Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ chí Minh đứng đầu và "trao quyền bính cho chính quyền ấy".

    "Chính phủ liên hiệp kháng chiến có nhiệm vụ thực hiện triệt để sự thống nhất các lực lượng của quốc dân về phương diện quân sự, tuyên truyền cũng như về phương diện hành chính tư pháp, tổng động viên nhân lực và tài sản của Quốc gia theo sự nhu cầu của tình thế, để đưa kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

    Quốc dân sẽ luôn luôn ủng hộ Chính phủ trong công cuộc ấy.

    Chính phủ liên hiệp kháng chiến phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và toàn thể quốc dân.

    Quốc hội thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam chúc Chính phủ liên hiệp kháng chiến vượt hết mọi trở lực và làm tròn nhiệm vụ".

    Đoàn đại biểu nhân dân và các đoàn thể cứu quốc Thủ đô đến chào mừng, dâng cờ nền đỏ sao vàng lên Quốc Hội với một ước mong Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà "sẽ như một ngôi sao sáng chói lọi và chiếu sáng xuống tận toàn cõi đất nước Việt Nam ".

    Vấn đề đoàn kết các đảng phái trong Quốc hội cũng được nêu ra. Ngô Tử Hạ, Chủ tịch của kỳ họp, đã đề nghị như sau: "Quốc hội đặt tín nhiệm vào các đảng phái, đã ký kết thành tâm đoàn kết với nhau để thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Vậy Quốc hội yêu cầu các Đảng phái vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, hoạt động trong vòng pháp luật và thực hành ngay việc thống nhất quân đội, hành chính và tuyên truyền". Toàn thể Quốc hội đã giơ tay biểu quyết tán thành đề nghị đó.

    Quốc hội nghe thư ký đọc và đã thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội, thông qua các điện văn gửi nhân dân toàn quốc, gửi các chiến sĩ ngoài mặt trận, gửi anh em các dân tộc thiểu số, gửi kiểu bào Hải ngoại, lời kêu gọi kiều bào ở Pháp, các điện văn gửi dân tộc Ai Lao, liên hợp quốc, Giáo hoàng, Tưởng Giới Thạch, dân chúng Trung Hoa và dân chúng Pháp. Tuyên ngôn của Quốc hội đã trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân Việt Nam và thế giới:

    "Chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam. Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam, chính thể của nước Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hoà, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân.

    Các dân tộc ở trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền hạn và nhiệm vụ ngang nhau".

    "Nền độc lập và dân chủ đã lập nên, nhờ sự đoàn kết, hy sinh và chiến đấu của toàn dân....

    Quốc hội Việt Nam kiên quyết bảo vệ đến cùng nền độc lập và lãnh thổ của quốc gia và quyền tự do của nhân dân Việt Nam.

    Quốc hội Việt Nam ra lệnh cho toàn thể quốc dân tận lực chống giữ giang sơn và xây dựng lại Tổ quốc để dân tộc Việt Nam tiến nhanh tới vinh quang, cường thịnh".

    Quốc hội đã thảo luận sôi nổi về việc lập Ban Thường trực để thay mặt Quốc hội. Gần 40 lượt ý kiến của các đại biểu đã phát biểu về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường trực, trong đó ý kiến của Đỗ Đức Dục, Trần Văn Cung, Nguyễn Đăng Long, Ngô Thế Phúc, Lê Tư Lành, Tôn Thất Vỹ, Lê Phi Vân, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Hồ Chí Minh, Đoàn Phú Tứ, Cù Huy Cận, Hoàng Văn Đức, Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Tri... ý kiến của các đại biểu tập trung ở hai điểm chủ yếu:

    1. Giao quyền của Quốc hội cho Ban Thường trực

    2. Định rõ ràng những quyền cụ thể cho Ban Thường trực. Căn cứ vào tình thế lúc bấy giờ, Quốc hội nhất trí định quyền hạn của Ban Thường trực như sau:

    o Góp ý kiến với Chỉnh phủ

    o Phê bình Chính phủ và khi Chính phủ đi ngược lại quyền lợi quốc dân, thì có quyền hiệu triệu quốc dân

    o Triệu tập Quốc hội trong những trường hợp sau này:

    § Khi Chính phủ yêu cầu,

    § Khi quá nửa số đại biểu yêu cầu,

    § Khi quá nửa uỷ viên thường trực xét thấy cần phải triệu tập;

    o Khi tuyên chiến hay đình chiến, bắt buộc phải được hỏi ý kiến;

    o Khi ký hiệp ước với nước ngoài phải triệu tập Quốc hội để chuẩn y.

    Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn đó, Quốc hội đã quyết định bầu Ban Thường trực gồm 15 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết:

    Trưởng ban: Nguyễn Văn Tố

    Phó trưởng ban: Phạm Văn Đồng

    Cung Đình Quỳ

    Uỷ viên chính thức:

    Bùi Bằng Đoàn

    Nguyễn Văn Chi

    Dương Văn Dư

    Hoàng Văn Đức

    Xuân Thuỷ

    Trịnh Quốc Quang

    Đàm Quang Thiện

    Nguyễn Tấn Gi Trọng

    Nguyễn Tri

    Lê Thị Xuyến

    Hoàng Minh Giám

    Dương Đức Hiền

    Uỷ viên dự khuyết: Nguyễn Văn Luyện

    Phạm Bá Trực

    Y Ngông Niếkđam

    Về sau, Ban thường trực được bổ sung thêm 4 đại biểu Nam Bộ: Tôn Đức Thắng và Dương Bạch Mai làm uỷ viên chính thức; Nguyễn Ngọc Bích và Huỳnh Tấn Phát làm uỷ viên dự khuyết.

    Cuối cùng, Quốc hội đã thảo luận nhiệm vụ và bầu Ban dự thảo Hiến pháp. Nhiệm vụ của ban đó là dự thảo bản Hiến pháp để phiên họp sau đem trình cho Ban thường trực, để Ban Thường trực trình Quốc hội. Ban đó sẽ nghiên cứu cả Quốc kỳ và Quốc ca. Trong lúc chờ đợi, là cờ đỏ sao vàng vẫn là Quốc kỳ và Quốc ca là bài Tiến quân ca. Ban dự thảo Hiến pháp gồm có 11 người: Trần Huy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên.

    13 giờ 10 phút, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đã bế mạc, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bài diễn văn ngắn ngọn. Người nói:

    "Bây giờ Quốc hội tạm thời bế mạc để cho tất cả anh em chúng ta đem một không khí đoàn kết, một cái không khí kháng chiến, một cái không khí kiên quyết, một cái không khí nhất định thành công về các địa phương và công tác.

    ... Đồng thời chúng ta cũng hứa với nhau rằng: Quốc hội họp lần này là Quốc hội kháng chiến mà Chính phủ cử ra là Chính phủ kháng chiến. Tôi mong rằng Quốc hội họp lần sau sẽ là Quốc hội thắng lợi mà Chính phủ cũng sẽ là Chính phủ thắng lợi.

    Vậy tôi đề nghị hô khẩu hiệu:

    - Kháng chiến thắng lợi !

    - Kiến quốc thành công !

    - Việt Nam độc lập muôn năm !"

    Như vậy, kể từ lúc khai mạc đến lúc bế mạc, Quốc hội họp khẩn trương trong vòng 4 giờ. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thực sự là một kỳ họp lịch sử. Nó diễn ra ngắn nhất và khẩn trương nên Quốc hội không thể bàn bạc những vấn đề lớn về quốc sách. Quốc hội chỉ tập trung vào một điểm quan trọng và quyết định nhất là thành lập cho được Chính phủ liên hiệp kháng chiến và một số cơ quan quan trọng khác của Quốc hội và Nhà nước là: Ban thường trực Quốc hội, cố vấn đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội. Việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, một cơ quan quyền lực điều hành cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, kể cả tổng động viên nhân lực và tài lực quốc gia đã đáp ứng được đòi hỏi bức thiết tình hình lúc bấy giờ. Đây là một bước hoàn thiện và củng cố bộ máy nhà nước ở Trung ương, bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc, thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ đối nội và đối ngoại, trước mắt là đàm phán thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với Pháp, tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng, bồi bổ thực lực, chuẩn bị lực lượng để chiến đấu bảo vệ tổ quốc khi tình thế bắt buộc quân và dân ta phải kháng chiến trong cả nước.

    Do tình thế đặc biệt của nước ta lúc này, quá trình Tổng tuyển cử cũng như việc triệu tập Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I đã diễn ra khá gay go và phức tạp. Sau khi Quốc hội chấp nhận mở rộng thêm 70 ghế đại biểu Quốc hội không qua sự tuyển chọn của nhân dân, thành phần của Quốc hội gồm: Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, Việt Quốc và Việt Cách, đồng thời thành phần đại biểu không đảng phái cũng nhiều. Vì thế, các đại biểu của Quốc hội không phải đại diện cho một đảng mà là đại diện cho nhiều đảng có chính kiến khác nhau, trong đó, có một số đảng đối lập. Việt Cách do Nguyễn Hải Thần nắm giữ và Việt Quốc do Vũ Hồng Khanh cầm đầu là những đảng phái đối lập quyết liệt. Họ tìm mọi cách để chống phá cách mạng, chống Đảng Cộng sản, chống lại độc lập, tự do của nhân dân... Hoạt động trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ chí Minh đứng đầu đã dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân và toàn Đảng, nắm vững ngọn cờ dân tộc, nêu cao khẩu hiệu "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", giữ vững nguyên tắc cách mạng, nhân nhượng và thoả hiệp đúng, linh hoạt và khéo léo, buộc đại biểu của các đảng phái đối lập phải thoả hiệp, hoà giải, "đồng tình" và "hợp tác". Đó là cơ sở để triển khai kỳ họp Quốc hội thành công, lập được một Chính phủ chính thức - Chính phủ liên hiệp kháng chiến.

    Thắng lợi của kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I là thắng lợi của sự đoàn kết đấu tranh, nhân nhượng và hoà giải nhằm tập trung lực lượng để thực hiện kháng chiến và kiến quốc.

    Báo Sự thật, số ngày 5-3-1946 đã viết: "Trước đây trên 600 năm, chúng ta có cuộc Hội nghị Diên Hồng họp cấp tốc đời Trần. Sau cuộc hội nghị ấy, 50 vạn quân Mông Cổ xâm lăng đã bị đánh bại ra ngoài bờ cõi. Ngày nay, Quốc hội cũng họp cấp tốc và ngót 300 đại biểu từ các tỉnh xa xôi về thủ đô đã thay mặt cho toàn dân quyết một lòng chiến đấu. Và họ đã chia tay nhau đem về địa phương lòng quyết chiến của toàn dân, lòng tin tưởng ở vị lãnh tụ tối cao và ở tương lai độc lập tự do của giống nòi. Chính phủ, Quốc hội, nhân dân trên dưới một lòng quyết chiến và quyết thắng".

    2. Quốc hội với việc củng cố nhà nước, xây dựng nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng chiến trong toàn quốc.

    Tổ quốc đang bị thực dân Pháp xâm lược. Để giành thắng lợi, cần tập trung quyền lực vào một cơ quan điều hành quốc gia mạnh mẽ nhằm thống nhất tất cả lực lượng của dân tộc. Vì thế, Quốc hội đã công nhận và trao quyền bính cho Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch. Chính phủ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Quốc hội và quốc dân đồng bào. Bên cạnh Chính phủ, Ban thường trực Quốc hội có quyền hạn góp ý kiến với Chính phủ, phê bình Chính phủ nếu Chính phủ làm trái lợi ích của quốc gia, của dân tộc. Trong tình thế đặc biệt của nước nhà, nhiều vấn đề đối nội và đối ngoại quan trọng vẫn phải được thống nhất và giải quyết nhanh chóng nên trong nhiều phiên họp thường kỳ hoặc đặc biệt của Hội đồng Chính phủ đều có sự tham dự, góp ý của Trưởng ban thường trực Quốc hội.

    Chính phủ và Quốc hội chủ trương thực hiện đoàn kết dân tộc, xây dựng mặt trận quốc gia liên hiệp và thống nhất để chống xâm lăng, giữ vững chính quyền, kiến thiết đất nước và thực hiện chính sách ngoại giao thân thiện với các nước trên thế giới.

    Trong phiên họp đầu tiên ngày 4-3-1946, Chính phủ đã quyết định một số chủ trương đối nội và đối ngoại:

    Về đối nội:

    1- Các đảng phái đoàn kết chặt chẽ, ngôn luận, hành động phải nhất trí để phụng sự quốc gia.

    2- Sinh mệnh và tài sản của tất cả công dân Việt Nam và kiều dân ngoại quốc được hoàn toàn bảo đảm.

    3- Hành chính và quân đội phải thống nhất, tài chính kinh tế tập trung.

    4- Mọi lực lượng của Quốc dân được huy động để dùng trong việc kháng chiến kiến quốc và toàn thể nhân dân, nhất là những người làm việc công phải tuân theo kỷ luật.

    Về ngoại giao:

    1- Đối với các nước Đồng Minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa.

    2- Đối với các nước nhược tiểu đang đấu tranh giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình.

    3- Đối với nhân dân Pháp, dân Việt Nam không thù hằn, song cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc "Dân tộc tự quyết" của Hiến chương Đại Tây Dương.

    Do tình thế đặc biệt cấp bách về ngoại giao, nhất là sau khi Hiệp ước Pháp - Hoa đã được ký kết (28-2-1946), Chính Phủ đã quyết định cử Hồ Chí Minh, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh phụ trách giải quyết công việc đàm phán. Các vị ấy "sẽ tuỳ cơ ứng biến theo những nguyên tắc của Chính phủ đã định ra". Còn công việc đàm phán với đại diện của Chính phủ Pháp thì giao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam phụ trách.

    Trong Tiến trình đàm phán ngoại giao lúc bấy giờ, đại diện của Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần gặp đại diện Chính phủ Pháp, và đại diện của quân đội Tưởng Giới Thạch tại Hà Nội. Trong cuộc tiếp xúc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Tường Tam với đại diện quân đội Tưởng tại Hà Nội sáng 4-3-1946, họ đã "khuyên nên tránh sự đổ máu" khi Quân đội Pháp vào thay quân đội Tưởng ở phía Bắc vĩ tuyến 16 theo Hiệp ước Pháp - Hoa và nói" Nước Việt Nam được công nhận quyền tự chủ là một bước để đi đến độc lập" .

    Đối với Pháp, Chính phủ Việt Nam chủ trương "Hoà để tiến", tránh tình thế một lúc phải chiến đấu với nhiều kẻ thù, tranh thủ thêm thời gian hoà bình để củng cố và phát triển lực lượng. Ngày 3-3-1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng đề ra chủ trương "giảng hoà với Pháp nhằm giành được giây phút nghỉ ngơi để sửa soạn cuộc chiến đấu mới..., tiến tới giành độc lập hoàn toàn". Căn cứ vào hoàn cảnh lúc đó, Việt Nam và Pháp sẽ ký một Hiệp định sơ bộ vào ngày 6-3-1946 theo những điều kiện cả hai bên đã thoả thuận.

    Nội dung của hiệp định bao gồm nhiều khoản quan hệ đến vận mệnh nền độc lập của dân tộc và chủ quyền của quốc gia. Do đó, trước khi ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo để Hội đồng Chính phủ và Ban thường trực Quốc hội quyết định.

    Sáng ngày 6-3-1946, một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ; các vị Bộ trưởng: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Chu Bá Phượng, Đặng Thai Mai, Trương Đình Tri, Vũ Đình Hoè, Trần Đăng Khoa; Cố vấn tối vao Vĩnh Thuỵ; Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực Quốc Hội; Võ Nguyên Giáp - Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến; Vũ Hồng Khanh - Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến; Hoàng Minh Giám - Thư ký Hội đồng Chính phủ. Sau khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo, Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thoả thuận. Vì Nguyễn Tường Tam vắng mặt, nên Hội đồng Chính phủ cử Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến thay mặt để cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bản Hiệp định sơ bộ với Pháp. Quyết định ký hiệp định sơ bộ với Pháp là một quyết sách lớn, vì vậy tất cả các vị có mặt tại cuộc họp của Hôi đồng Chính phủ sáng 6-3-1946 đã cùng ký vào một biên bản đặc biệt và Chính phủ sẽ yêu cầu các vị vắng mặt ký sau. Dưới đây là nội dung tờ biên bản đặc biệt đó:

    "Hội đồng Chính phủ Việt Nam, Tối cao cố vấn đoàn Đoàn trưởng, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch và Phó chủ tịch Uỷ ban kháng chiến toàn quốc, trong phiên họp ngày 6-3-1946, sau khi cụ Chủ tịch báo cáo về tình hình ngoại giao, sau khi hỏi ý kiến của toàn thể:

    1- Nghị quyết tán thành ký hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp, theo những điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa (nguyên văn đính theo sau)

    2- Uỷ quyền cho ông Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến, thay mặt Hội đồng Chính phủ cùng cụ Chủ tịch Chính phủ ký hiệp định trên với đại biểu Pháp.

    3- Nghị quyết này do toàn thể Hội đồng, Uỷ ban kháng chiến và Ban thường trực Quốc hội cộng đồng phụ trách trước quốc dân".

    Được Hội đồng Chính phủ nhất trí, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh đã ký với J.Xanhtơny bản Hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, một nước có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Việt Nam chấp thuận để quân đội Pháp ra miền Bắc vĩ tuyến 16 để thay thế quân đội Tưởng....

    Ký Hiệp định sơ bộ là một bước "Hoà để tiến". Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để thực hiện Độc lập, Tự do, Chủ quyền và Thống nhất còn nhiều khó khăn gian khổ. Vì thế, sau khi Hiệp định được ký kết, Ban thường trực Quốc Hội hiệu triệu quốc dân đồng bào phải "chuẩn bị", "đoàn kết", "bình tĩnh", "Tránh khiêu khích" và tuân theo "mệnh lệnh Chính phủ". Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến và ký Hiệp định sơ bộ, Quốc hội và Chính phủ đã xúc tiến thêm các hoạt động bang hữu với Trung Hoa và Pháp.

    Tại phiên họp của Hội đồng Chính phủ ngày 11-3-1946, với sự tham dự của Vĩnh Thuỵ, Hội đồng đã quyết định cử một phái bộ sang giao hảo với Trung Hoa, trong đó, có Vĩnh Thuỵ, Nghiêm Kế Tổ...

    Ban thường trực Quốc Hội, thể theo đề nghị của Chính Phủ đã cử một phái đoàn của Quốc hội gồm 10 đại biểu do Phạm Văn Đồng, phó trưởng ban thường trực Quốc Hội, dẫn đầu sang thăm Pháp từ 25-4 đến 16-5-1946. Trong những ngày ở thăm Pháp, phái đoàn Quốc hội đã hoạt động trong hầu hết các chính giới, làm cho số đông chính khách Pháp, nhất là nhân dân Pháp có thiện cảm hơn với Việt Nam, hiểu rõ cuộc đấu tranh vì độc lập của Việt Nam. Về kết quả chuyến đi đó, Phạm Văn Đồng nói: "Chúng tôi tin rằng, chúng tôi làm tròn nhiệm vụ đó. Vì nghĩ rằng tình thân thiện giữa hai dân tộc cần được xây trên nền tảng vững vàng nên chúng tôi đã mạnh bạo nêu lên tất cả những vấn đề phân tranh giữa Việt và Pháp, nhất là vấn đề Nam Bộ. Chúng tôi đã tiếp xúc với nhiều nghị viên Quốc hội Pháp, với các chính đảng, các nhà báo, cùng với nhân sĩ có danh của nước Pháp, đâu đâu chúng tôi cũng thấy mối cảm tình với nước Việt Nam và sự nhận xét thoả đáng về vấn đề Nam Bộ. Do sự hoạt động của chúng tôi mà người Pháp nhận thấy rõ rằng nếu nước Việt Nam cần thân thiện với nước Pháp thì nước Pháp cũng cần thân thiện với nước Việt Nam, và muốn thực hiện tình thân thiện ấy được hoàn toàn thì phải giải quyết vấn đề Nam Bộ cho hợp với ý nguyện của toàn thể dân tộc Việt Nam. Chúng tôi không bao giờ quên thái độ lịch sự và cảm tình mật thiết của nhân dân Pháp đối với chúng tôi".

    Việt Kiều ở Pháp đã hân hoan đón phái đoàn - người đại biểu cho quốc dân Việt Nam, một nước vừa mới giành được quyền độc lập, tự do sau gần 100 năm bị thực dân đô hộ. Kiều bào đều hướng về tổ quốc Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Ngày 19-4-1946, Phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và phái đoàn Chính phủ Pháp đã họp hội nghị trù bị ở Đà Lạt, trước khi mở cuộc đàm phán chính thức ở Đà Lạt, trước khi mở cuộc đàm phán chính thức ở Pháp. Song do phía Pháp cố giữ lập trường thực dân nên hội nghị không đạt được thoả thuận nào.

    Ngày 31-5-1946, theo lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm nước Pháp, Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, được giao giữ chức quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Trao đổi với Quyền Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng về các đối sách của Chính phủ trong tình thế phức tạp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu phương châm: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đi dự cuộc đàm phán chính thức ở Pháp đã lên đường cùng thời gian với Người. Do lập trường thực dân phản động của Chính phủ Pháp, cuộc đàm phán chính thức Việt - Pháp ở Phôngtennơblô (Fontainebleau) không đạt được kết quả. Để tỏ thiện chí hoà bình, giành thêm thời gian chuẩn bị lực lượng ở trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với M.Mutê (M.Moutet), Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, ký bản Tạm ước 14-9-1946.

    Cuộc đàm phán của Việt Nam với Pháp ở Phôngtennơblô, việc ký tạm ước 14-9-1946, cũng như phái đoàn Quốc hội Việt Nam sang thăm nước Pháp đã nêu cao thiện chí hoà bình và hữu nghị của Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với nước Pháp. Uy tín của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh vì độc lập và thống nhất của dân tộc, tranh thủ thời gian để tiếp tục củng cố khối đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước, thực hiện nền dân chủ, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến khi thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra cả nước.

    Về nội trị, Chính phủ đã củng cố dần bộ máy nhà nước, đặc biệt là bộ máy chính quyền ở các cấp.

    Thực hiện Sắc lệnh số 63/SL ngày 22-11-1945 của Chính phủ, tổ chức bộ máy chính quyền gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính đã lần lượt được bầu chính thức. Ở Bắc bộ, trong số 227 huyện và thị xã, có 128 huyện và thị xã đã bầu Uỷ ban hành chính chính thức. Ở Trung bộ, trừ các tỉnh trực tiếp kháng chiến, tất cả các tỉnh còn lại đều đã có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính chính thức.

    Ở Nam bộ, do hoàn cảnh chiến tranh bùng nổ sớm, sau một thời gian phân tán, Uỷ ban nhân dân lâm thời khắp nơi lần lượt được tập trung và hoạt động trở lại. Sắc lệnh số 63 chưa được thi hành. Hình thức Uỷ ban nhân dân vẫn còn giữ lại và đổi ra Uỷ ban kháng chiến lâm thời. Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 13 (21-1-1946) để thi hành chế độ phân quyền tư pháp biệt lập.

    Việt Nam công an vụ, cơ quan an ninh quốc gia, có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa phương được thành lập theo Sắc lệnh số 23/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21-3-1946.

    Quyền tự do thân thể, tự do báo chí, tự do lập hội được thực hiện. Ngày 29-3-1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 40/SL về việc bảo vệ tự do cá nhân. Sắc lệnh số 41/SL quy định chế độ báo chí cũng được công bố ngày 29-3-1946. Chế độ tự do lập hội được đặt trên nguyên tắc tự do theo Sắc lệnh số 52/SL ngày 22-4-1946. Kể từ sau khi Sắc lệnh được ban hành đến trước Kỳ họp thứ hai của Quốc Hội, Bộ Nội vụ đã nhận được nhiều đơn xin phép lập hội, Bộ đã cho phép 90 hội được thành lập và hoạt động. Ngày Hội lao động quốc tế 1-5 được công nhận là ngày hội chính thức của người lao động Việt Nam theo Sắc lệnh ngày 29-4-1946. Quyền tự do tín ngưỡng được bảo đảm theo Sắc lệnh số 35/SL ngày 20-9-1945. Uỷ ban dự thảo Hiến pháp đã nỗ lực hoạt động, khởi thảo bản Hiến pháp, sẵn sàng đệ trình Quốc hội.

    Ngày 3-5-1946, Ban thường trực Quốc hội đã cử Linh mục Phạm Bá Trực cùng đi với phái đoàn Chính phủ vào Trung bộ để giải thích cho đồng bào rõ chính sách quốc gia liên hiệp của Chính phủ Hồ Chí Minh. Và ngày 14-8-1946, một phái đoàn Quốc hội do Nguyễn Trí và Dương Văn Dư được cử vào Nam Trung bộ thăm, uý lạo các chiến sĩ ngoài mặt trận. Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc được tổ chức tháng 12-1945 và Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số khu vực miền Nam họp tháng 6-1946 đã góp phần tăng cường đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng quốc gia thống nhất. Nha dân tộc thiểu số đã được thành lập để nghiên cứu và giúp Chính phủ giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trong toàn cõi Việt Nam. Một số đoàn thể quần chúng và đảng phái dân chủ lần lượt ra đời như: Mặt trận Liên Việt (28-5-1946), Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (27-5-1946), Đảng xã hội Việt Nam (22-7-1946), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20-10-1946), v.v... Mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất quốc gia được tăng cường.

    Việc vũ trang quần chúng cách mạng được các Uỷ ban hành chính các cấp coi trọng. Các đội cảnh vệ được thành lập. Bộ đội chính quy được mở rộng. Vệ quốc quân được chính thức chuyển thành quân đội quốc gia Việt Nam theo Sắc lệnh số 71/SL ngày 22-5-1946. Quân uỷ hội và Bộ Quốc phòng đã cùng đảm đương công việc chỉnh đốn và điều khiển quân đội.

    Thực hiện Hiệp ước Hoa - Pháp, quân đội Tưởng giới Thạch lần lượt rút về nước. Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... bỏ nhiệm vụ, rời Tổ quốc theo Quân đội Tưởng sang Trung Quốc. Lực lượng vũ trang của các Đảng phái đối lập (trừ đơn vị vũ trang của Việt Quốc ở Vĩnh Yên đã thực hiện kế hoạch thống nhất vào Bộ đội vệ quốc đoàn ngày 23-5-1946), đóng ở Việt Trì, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hoà Bình, Bắc Giang, Lạng Sơn... Đã rút chạy lên miền bên giới Việt - Trung, bị tan rã hoặc chạy sang Trung Quốc theo quân Tưởng, sau trở lại theo quân Pháp. Các địa phương trên được giải phóng. Các ổ, nhóm chính trị phản động đã bị khám phá và trừng trị. An ninh chính trị xã hội được ổn định.

    Các hoạt động về mặt kinh tế, tài chính, tiền tệ và giáo dục, văn hoá đều được đẩy mạnh. Nạn đói bị đẩy lùi...

    Cuộc kháng chiến ở Nam Trung bộ và Nam bộ đã có những chuyển biến tốt sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946.

    Sau tám tháng, dưới "sự chỉ đạo sáng suốt và khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước nhà đã vượt qua được các nỗi khó khăn"; đã đạt tới "một địa vị khả quan", tuy còn phải gắng sức nhiều hơn. Chính phủ, Quốc hội nỗ lực xây dựng khối đoàn kết thống nhất dân tộc, quân và dân Nam bộ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ độc lập và thống nhất. Còn thực dân Pháp và tay sai thì ra sức phá hoại quyết chia cắt đất nước, tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam. Chúng đã dựng lên Chính phủ "Nam kỳ tự trị" do Nguyễn Văn Thinh đứng đầu vào tháng 6-1946 và đến tháng 12-1946 chúng lại lập Chính phủ Lê Văn Hoạch. Đây là một hành động trắng trợn và phản động cực đoan nhất trong việc thực hiện chính sách chia để trị của Thực dân Pháp. Chính sách đó đã đi ngược dòng lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam nên đã thất bại. Nguyên Văn Thinh đã kết liễu đời mình bằng một sợi dây đồng thắt cổ. Chính quyền Cách mạng được giữ vững. Khối liên hiệp quốc gia được củng cố. Cách mạng Việt Nam đã đứng vững và tiếp tục tiến lên.

    Trong bối cảnh đó, theo yêu cầu của Chính phủ, Ban thường trực Quốc hội đã triệu tập Quốc hội họp kỳ thứ hai tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 28-10 đến 9-11-1946. Về dự họp có 290 đại biểu. Một số đại biểu ở cực Nam Trung bộ và Nam bộ vì công việc kháng chiến không ra được. Đại diện các lãnh sự quán Anh, Mỹ, Trung Hoa, Thuỵ Sĩ, một số nhà đương chức khác, phóng viên báo giới Mỹ, Pháp, Hoa và Việt Nam đã có mặt trong phiên họp khai mạc. Công chúng được quyền vào dự thính kỳ họp và có quyền chất vấn, khen chê Chính phủ. Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, đọc diễn văn khai mạc, khẳng định những kết quả thu được của Chính phủ và Quốc hội trong tám tháng đã qua và nhấn mạnh: "Nhiệm vụ của Quốc dân đồng bào lúc này là lúc ra công xây dựng nước nhà để thực hiện nền độc lập cho Tổ quốc"; Rằng "nước ta với sự đồng tâm nhất trí của toàn thể đông bào, sẽ giành được độc lập và đi tới vinh quang và hạnh phúc", "Với sự hy sinh của đồng bào Nam bộ, với sự quyết tâm của toàn thể quốc dân Việt Nam, nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, Trung Nam Bắc là một khối như xưa".

    Nguyễn Văn Tạo đại biểu Rạch Giá báo cáo quyết tâm của những đại biểu quốc hội đã cùng với đồng bào Nam bộ chiến đấu, để mang lại cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc bay trở lại trên đất Nam bộ. Cả Hội trường cảm động và phấn chấn khi Hồ Chí Minh ôm hôn Nguyên Văn Tạo, như ôm hôn đồng bào Nam bộ anh dũng - "Thành đồng của Tổ quốc".

    Quốc hội đã nghe báo cáo công tác của Chính phủ do Vũ Đình Hoè đọc và báo cáo đặc biệt của Chính phủ về việc giao thiệp với Chính phủ Pháp do Phạm Văn Đồng trình bầy.

    Các đại biểu Quốc hội đã chất vấn Ban thường trực của Chính phủ nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, tài chính, nội vụ... Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc Hội, các Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng, Trương Đình Tri, Trần Đăng Khoa, Chu Bá Phượng, Võ Nguyên Giáp, Ca Văn Thỉnh, Vũ Đình Hoè, Lê Văn Hiến và Hồ Chí Minh đã trả lời nhiều câu hỏi do đại biểu Quốc hội nêu ra. Có buổi họp Chính phủ đã nhận được 88 cầu hỏi của đại biểu. Điều đó tỏ rõ Quốc hội rất quan tâm đến các vấn đề của Quốc gia và thể hiện rõ tính chất dân chủ của Quốc hội.

    Về vấn đề Quốc kỳ, đại biểu Quốc hội Lê Trọng Nghĩa đã chất vấn Ban Thường trực Quốc hội: Trong khoá họp thứ nhất, Quốc hội đã quyết định tạm giữ lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ cho đến bao giờ có sự quyết định của Quốc hội khoá họp thứ hai, vậy tại sao Ban Thường trực lại mang vấn đề thay đổi cờ ra thảo luận? Nguyên Văn Tố đã trả lời: Tuy Quốc hội khoá trước đã quyết nghị thế, nhưng Chính phủ sau đó có đề nghị với Ban Thường trực là thay đổi một vài chi tiết trong lá cờ: Chẳng hạn như thêu một vành xanh ở ngoài ngôi sao vàng. Ban Thường trực nhận được đề nghị của Chính phủ tất nhiên phải thảo luận và kết quả là đã cương quyết giữ được nguyên lá cờ đỏ sao vàng, cho nên Ban thường trực báo cáo lại việc ấy, đó không phải là đặt lại vấn đề thay đổi cờ mà là để tỏ ra rằng đã làm tròn uỷ nhiệm của Quốc hội khoá họp thứ nhất. Tiếp lời, Nguyễn Tri đọc lại một bản Nghị quyết án của Ban Thường trực ngày 13-3-1946 về vấn đề cờ như sau: Yêu cầu Chính phủ đừng làm trái Nghị quyết của Quốc hội khoá họp thứ nhất để giữ nguyên tắc dân chủ.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ đã trả lời một số vấn đề lớn. Người nói:

    Chính phủ hiện thời thành lập mới hơn một năm, hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà Quốc hội đã đặt những câu hỏi thật già dặn thắc mắc khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mạng của nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập.

    - Về Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi, chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nếu Chính phủ phải đệ lên Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ Việt Nam ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu, cũng được chào kính cẩn. Bây giờ, trừ khi cả 25 triệu đồng bào yêu cầu, còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó.

    - Về việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh đã ra đi, Người nói: Lúc nước nhà đang gặp khó khăn, quốc dân tin ở người nào mới trao cho người ấy công việc lớn, mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải tự hỏi lương tâm mình... Những người bỏ đi kia, chứng tỏ họ không muốn gánh việc nước nhà, hoặc họ không đủ năng lực mà gánh nổi. Nay chúng ta không có họ ở đây, chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh.

    - Về chính sách ngoại giao, Người nói: Đối với các nước dân chủ, chúng ta hết sức gây thân thiện. Còn về ngoại giao với Pháp, thì từ khi ký Hiệp định 6-3 qua các Hội nghị Đà Lạt và Phôngtennơblô đến Tạm ước 14-9, cũng đã báo cáo nhiều rồi. Chính phủ quyết tâm giữ nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời cộng tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác lại với chúng ta trên nguyên tắc bình đẳng.

    - Về tính liêm khiết của Chính phủ, Người nói: Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các Uỷ ban làng hiện đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ - đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết...

    Quốc hội đã thảo luận và thông qua các nghị quyết về nội trị, ngoại giao, về việc lập Chính phủ mới, về quyền quan thuế, về việc phát hành giấy bạc Việt Nam, v.v...

    Về nội trị, Quốc hội tán thành chính sách đại đoàn kết của Chính phủ; đề phòng mưu mô chia rẽ để bảo đảm an ninh của quốc dân và tiến hành công cuộc kiến thiết quốc gia.

    Về chính sách ngoại giao của nước ta với nước Pháp, phải căn cứ trên chủ quyền của Việt Nam với lực lượng quốc dân làm hậu thuẫn, phải cương quyết để bảo toàn lãnh thổ Việt Nam.

    Về việc lập Chính phủ mới, Quốc hội quyết nghị tán thành chính sách chung của Chính phủ: Nhận sự từ chức của Chính phủ và uỷ nhiệm cho Hồ Chí Minh đứng ra lập Chính phủ mới theo nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài không phân biệt đảng phái. Hồ Chí Minh đã cám ơn Quốc hội và tuyên bố.

    "Lần này là lần thứ hai mà Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa, Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

    Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan, phát tài.

    Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

    Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: tôi chỉ có một Đảng - Đảng Việt Nam.

    Tuy trong Nghị quyết của Quốc hội không nói đến hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

    Theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích, trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà" .

    Ngày 3-11-1946, Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu ra trình diện trước Quốc hội. Chính phủ gồm có các bộ và thành viên:

    1. Hồ Chí Minh Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

    2. Huỳnh Thúc Kháng Bộ trưởng Bộ Nội vụ

    3. Võ Nguyên Giáp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

    4. Nguyễn Văn Huyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục

    5. Lê Văn Hiến Bộ trưởng Bộ Tài chính

    6. Trần Đăng Khoa Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính

    7. Hoàng Tích Trí Bộ trưởng Bộ Y tế

    8. Nguyễn Văn Tạo Bộ trưởng Bộ Lao động

    9. Vũ Đình Hoè Bộ trưởng Bộ Tư Pháp

    10. Ngô Tấn Nhơn Bộ trưởng Bộ Canh nông

    11. Chu Bá Phượng Bộ trưởng Bộ Cứu tế

    12. Một vị ở Nam bộ Bộ trưởng Bộ Kinh tế

    13. Nguyễn Văn Tố Bộ trưởng không bộ

    14. Bồ Xuân Luật Bộ trưởng không bộ

    Quốc hội đã biểu quyết tán thành danh sách Chính phủ mới. Đây là một Chính phủ tỏ rõ "tinh thần Quốc hội liên hiệp", chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nước Việt Nam mới "

    Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật Lao động. Nguyễn Văn Tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động thay mặt Chính phủ đọc tờ trình về dự án Luật quy định chế độ lao động. Dự án Luật đã được Ban Thường trực Quốc hội, Tổng liên đoàn lao động cùng Viện Thương mại tham gia ý kiến. Một tiểu ban lao động của Quốc hội đã xem xét bản dự án để trình Quốc hội. Về quan điểm, tiểu ban cho rằng, ở nước ta, nền kinh tế cần phải được phát triển, thực tế bắt buộc phải dung hoà quyền lợi của nghiệp chủ và của lao động để kiến thiết quốc gia. Tiểu Công nghệ ở Việt Nam cần được phục hưng. Vậy cần phải có những điều kiện dễ dàng để phát triển một cách triệt để. Tinh thần của Luật Lao động lúc này không khuếch trương đấu tranh giữa lao động với chủ mà có ý đoàn kết, dung hoà quyền lợi cả đôi bên.

    Nội dung dự án Luật Lao động gồm 25 điều, trong đó nổi bật lên những vấn đề có tính nguyên tắc:

    - Nhìn nhận lao động, không được ai bó buộc, lao động phải được tôn trọng, giá trị phải được xứng đáng;

    - Định rõ rệt chế độ học nghề;

    - Định rõ thể lệ trong việc lập và thi hành khế ước;

    - Định rõ phụ cấp cùng việc chia lãi:

    - Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ;

    - Bảo vệ công nhân nữ và trẻ em;

    - Bảo vệ sức khoẻ công nhân;

    - Quyền tập hợp và đình công của công nhân.

    Ngày 8-11-1946, Quốc hội đã nhiệt liệt hoan nghênh và thông qua dự án Luật Lao động, "để đặt nền móng cho Bộ luật Lao động mà Chính phủ đang sửa soạn ban bố.

    Bản dự án Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được soạn thảo xong và được công bố tháng 11-1945. Tiểu ban Hiến pháp do kỳ họp thứ nhất của Quốc hội cử ra đã tiếp tục nghiên cứu dự thảo Hiến pháp. Uỷ ban kiến quốc của Chính phủ cũng đã tự nghiên cứu và đưa ra một dự thảo. Căn cứ vào bản dự án của Chính phủ đã đưa ra, đối chiếu với bản dự thảo của Uỷ ban kiến quốc, tập hợp những kiến nghị phong phú của toàn dân và tham khảo kinh nghiệm về Hiến pháp các nước ở Âu-Á, Tiểu ban đã soạn thảo một dự án Hiến pháp để trình Quốc hội. Trong phiên họp ngày 29-10-1946. Tiểu ban được mở rộng thêm 10 vị đại biểu cho các nhóm, đại biểu Trung lập, đại biểu Nam bộ, đại biểu đồng bào thiểu số để tham gia tu bổ thêm bản dự án và Quốc hội bắt đầu thảo luận từ 2-11-1946. Đỗ Đức Dục thuyết trình trước Quốc hội bản dự án Hiến pháp Việt Nam đã được Tiểu ban Hiến pháp mở rộng tu chỉnh và nêu nhận xét về bước tiến trên đường dân chủ mới của Hiến pháp Việt Nam so với Hiến pháp của một số nước dân chủ, đồng thời Hiến pháp Việt Nam đã dựa vào thực tiễn của đất nước để đem lại quyền lợi cho nhân dân.

    Các đại diện của các nhóm Đảng trong Quốc hội: Hồ Đức Thành, đại diện của Việt Cách; Trần Huy Liệu, đại diện nhóm Mácxít; Hoàng Văn Đức, đại diện nhóm dân chủ; Lê Thị Xuyến đại diện nhóm xã hội; Nguyễn Đình Thi, đại diện Việt Minh; Trần Trung Dung, đại diện Việt Quốc, đã lần lượt phát biểu ý kiến. Các vị đại diện các nhóm đều đã nêu lên những ưu điểm, tính chất tiến bộ của dự án Hiến pháp, góp thêm một số khía cạnh cụ thể và cuối cùng đều tán thành dự án. Riêng Trần Trung Dung tuy cũng tán thành dự án Hiến pháp, song lại không đồng ý chế độ một viện, cho rằng dân chúng Việt Nam chưa được huấn luyện nhiều về chính trị nên sợ rằng chế độ một viện không thích hợp với Việt Nam. Phạm Gia Đỗ, đại biểu Việt Quốc cũng không tán thành chế độ một viện mà cần có chế độ hai viện vì chế độ một viện là "độc tài của đa số"! Các đại biểu Hồ Đức Thành, Đỗ Đức Dục, Đinh Gia Trinh, Đào Trọng Kim, Nguyễn Sơn Hà và nhiều đại biểu khác đã phát biểu ý kiến tán thành chế độ một viện. Đào Trọng Kim nhấn mạnh: Hiến pháp đã phản ánh được nguyên vọng của dân chúng. Chế độ tập quyền và phân công rất thích hợp để có thể ứng phó mau lẹ với thời cuộc luôn luôn biến chuyển. Khuất Duy Tiến đã tranh luận với Phạm Gia Đỗ và nói rõ Hiến pháp Việt Nam rất cấp tiến. Chính thể của nước Việt Nam là chính thể tập quyền và phân công rõ ràng. Chúng ta ai cũng tha thiết với tự do, nhưng phải nhớ rằng tự do của cá nhân không được trái với quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Cá nhân muốn được tự do của mình thì phải nỗ lực đấu tranh cho Tổ quốc. Trần Trung Dung nói nhiều đến quyền tự do của công dân và cố ý chỉ trích Chính phủ trong một năm nắm chính quyền chưa cho dân chúng hưởng được quyền tự do (như dự án Hiến pháp đã nêu ra). Phạm Văn Đồng, chủ toạ buổi họp ngắt lời và đã chỉ trích Trần Trung Dung đã phê phán không đúng đối với Chính phủ trong một năm nỗ lực đấu tranh gay go để giữ gìn độc lập. Khuất Duy Tiến thì chỉ trích Trần Trung Dung đã phủ nhận nền dân chủ của nước Việt Nam sau cuộc Cách mạng Tháng tám.

    Qua nhiều buổi thảo luận và tranh luận sôi nổi để bổ sung, sửa đổi từng điều cụ thể, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp. Toàn thể Quốc hội đều công nhận cờ đỏ sao vàng là lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc không thể bàn cãi được và đã đứng lên nghiêm trang chào lá Quốc kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đồng thanh hát bài Tiến quân ca.

    Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với 240 đại biểu tán thành trên 242 đại biểu; hai đại biểu không tán thành là Nguyễn Sơn Hà và Phạm Gia Đỗ.

    Bản Hiến pháp gồm có Lời nói đầu, 7 chương và 70 điều. Lời nói đầu đã ghi rõ thành quả của cuộc cách mạng Việt Nam, nhiệm vụ của dân tộc trong giai đoạn mới và những nguyên tắc xây dựng Hiến pháp:

    "Cuộc Cách mạng Tháng tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà.

    Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới.

    Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.

    Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc sau đây:

    - Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

    - Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

    - Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

    Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hoà bình của nhân loại".

    Hiến Pháp - đạo luật cơ bản của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định chính thể (Chương I), Nghĩa vụ và quyền lợi công dân (Chương II), Nghị viện nhân dân (Chương III), Chính phủ (Chương IV), Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính (Chương V), Cơ quan tư pháp (Chương VI), Sửa đổi Hiến pháp (Chương VII).

    Hiến pháp đã ghi rõ về chính thể:

    "Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo" (Điều 1).

    "Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất, Trung Nam Bắc không thể phân chia" (Điều 22).

    "Cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh. Quốc ca là bài Tiến quân ca. Thủ đô đặt ở Hà Nội" (Điều 3).

    Về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, Hiến pháp đã khẳng định:

    "Mọi công dân Việt Nam phải: - Bảo vệ Tổ quốc; - tôn trọng Hiến pháp; - Tuân theo pháp luật" (Điều 4) và "có nghĩa vụ phải đi lính" (Điều 5).

    "Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá" (Điều 6), "đều được bình đẳng trước Pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình" (Điều 7); những dân tộc thiểu số "được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung" (Điều 8), "đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 9). "Công dân Việt Nam có quyền: - tự do ngôn luận; - tự do xuất bản; - tự do tổ chức và hội họp; - tự do tín ngưỡng; - tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài" (Điều 10). "Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật" (Điều 11). "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm" (Điều 12). "Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm" (Điều 13). "Công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ em được săn sóc về mặt giáo dưỡng" (Điều 14). "Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước" (Điều 15).

    "Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín" (Điều 17). "Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên... đều có quyền bầu cử..." (Điều 18). "Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra..." (Điều 20) "... có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia..." (Điều 21).

    Về Nghị viện nhân dân, Hiến pháp ghi:

    "Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" (Điều 22). "Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài" (Điều 23). "Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần" (Điều 24). "Nghị viện nhân dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 Uỷ viên chính thức, 3 Uỷ viên dự khuyết để lập thành Ban Thường vụ, Nghị trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng và Phó trưởng Ban thường vụ" (Điều 27).

    "Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý" (Điều 32).

    "Khi Nghị viện không họp được, Ban Thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến" (Điều 38).

    Về Chính phủ, Hiến pháp đã ghi:

    "Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" (Điều 43). "Chính phủ gồm có Chủ tịch nước..., Phó Chủ tịch và nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng" (Điều 44). "Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong Nghị Viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số Nghị viên bỏ phiếu thuận.... Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại" (Điều 45).

    "Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết"... "Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách" (Điều 47). "Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà: a) Thay mặt cho nước; b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái... ; c) Ký Sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên nội các và các nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ; d) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ; đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết định...; k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như Điều 38 đã định" (Điều 49).

    "Quyền hạn của Chính phủ: a) Thi hành các đạo luật; b) đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện; c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban Thường vụ trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt... e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn nước; g) Lập dự án ngân sách hàng năm" (Điều 52).

    Hiến pháp cũng quy định hệ thống tổ chức và quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp, hệ thống và quyền hạn của cơ quan tư pháp và những điều quy định về sửa đổi Hiến pháp.

    Hiến Pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một Hiến pháp dân chủ, phản ánh rõ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, khẳng định quyền dân tộc độc lập, thống nhất lãnh thổ và quyết tâm bảo vệ đất nước của toàn dân, xây dựng thể chế dân chủ cộng hoà, một chế độ bảo đảm quyền dân chủ tự do của mọi công dân không phân biệt nam nữ, đặc biệt ưu đãi đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Công dân Việt Nam được quyền trực tiếp bầu ra Nghị viện - cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đại diện cho quyền làm chủ đất nước của toàn dân và chịu trách nhiệm trước quốc dân đối với vận mệnh lịch sử của dân tộc, của mọi người dân trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc.

    Đánh giá về bản Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp". Đó là "Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà, là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông". "Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập..., dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do..., phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do đó của một công dân. Hiến Pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng của các giai cấp".

    Bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua và Quốc hội cũng đã quyết định không cần phải đưa Hiến pháp ra trưng cầu dân ý trong toàn quốc nữa. Bản Hiến pháp đã trở thành chính thức từ 9-11-1946. Do chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang lan rộng, cho nên Quốc hội đã biểu quyết chưa ban hành Hiến pháp bằng một Sắc lệnh và chưa thi hành Hiến pháp ngay. Việc bầu Nghị viện nhân dân theo quy định của Hiến pháp chưa thể tổ chức được. Quốc hội chưa hết nhiệm vụ mà cần phải tiếp tục hoạt động cho đến khi bầu được Nghị viện nhân dân.

    Quốc hội thảo luận rất sôi nổi về nhiệm vụ của Ban Thường trực Quốc hội và cuối cùng đã nhất trí biểu quyết giao cho Ban những nhiệm vụ: Liên lạc với Chính phủ để giúp ý kiến và phê bình Chính phủ; cùng với Chính phủ quy định việc thi hành Hiến pháp; liên lạc với đại biểu Quốc hội và triệu tập Quốc hội khi cần thiết; cùng với Chính phủ quyết định tuyên chiến, đình chiến hoặc ký hiệp ước với nước ngoài.

    Ban thường trực Quốc hội được bầu tại kỳ họp thứ hai gồm có 18 vị:

    Trưởng ban: Bùi Bằng Đoàn

    Phó trưởng ban: Tôn Đức Thắng

    Tôn Quang Phiệt

    Uỷ viên chính thức: Phạm Bá Trực

    Dương Đức Hiền

    Cung Đình Quỳ

    Hoàng Văn Hoan

    Trần Huy Liệu

    Nguyễn Văn Luyện

    Trần Văn Cung

    Dương Văn Dư

    Y Ngông Niêkđam

    Hoàng Minh Châu

    Nguyễn Đình Thi

    Lê Thị Xuyến

    Uỷ viên dự khuyết: Lê Tư Lành

    Trần Tấn Thọ

    Nguyễn Thị Thục Viên

    Quốc hội cũng đã chuẩn y bản quyết định uỷ nhiệm cho Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến pháp. Trong thời kỳ chưa thi hành được thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các đạo luật. Với các quyết định trên, Quốc hội đã tiếp tục hoạt động, gánh vác trách nhiệm mới, làm nhiệm vụ lập hiến và cả nhiệm vụ lập pháp.

    Kỳ họp thứ hai của Quốc hội đã kết thúc thắng lợi ngày 9-11-1946. Ngày 11-11-1946, Ban thường trực Quốc hội đã họp để bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 người: Bùi Bằng Đoàn là Trưởng ban, Tôn Đức Thắng và Tôn Quang Phiệt - Phó trưởng Ban, Nguyễn Đình Thi - Thư ký, Dương Đức Hiền - Phó thư ký và lập các tiểu ban: Pháp chế gồm 8 người do Tôn Quang Phiệt làm Trưởng ban, Tài chính kinh tế gồm 6 người do Nguyễn Văn Luyện làm Trưởng ban, và kiến nghị gồm 4 người do Trần Huy Liệu làm Trưởng ban. Đây là một kỳ họp dài ngày đầu tiên của Quốc hội khoá I, một kỳ họp sôi nổi, dân chủ thảo luận, có khi gay go, song đã đi đến thống nhất. "Nếu có ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến trong phòng này.... cũng đã để lòng nghe theo một tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng chung của đất nước...; tình trạng thống nhất ý chí và hành động..." Tổ quốc trên hết! Đoàn kết, đại đoàn kết! Không phân biệt đảng phái! Đó là ý chí cơ bản của Quốc hội theo ngọn cờ thống nhất quốc gia dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: chúng ta chỉ có một "Đảng Việt Nam".
     
  5. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    QUỐC HỘI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC
    CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ (12/1946 - 7/1954)



    Gần một năm tạm hoà hoãn, chính quyền cách mạng đã được củng cố và phát triển lực lượng. Việt Nam cần hoà bình để xây dựng đất nước, song, thực dân pháp đã phản bội Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9. Pháp đã đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và gây hấn ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Thủ đô Hà Nội. Tuy vậy, Việt Nam vẫn kiên trì hoà bình. Ngày 30-11-1946, Ban Thường trực Quốc hội đã quyết định thông báo cho Quốc hội Pháp biết về cuộc xung đột xảy ra ở nhiều nơi và yêu cầu Quốc hội Pháp cử một phái đoàn sang điều tra tại chỗ. Ngày 6-12-1946, qua đài phát thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "thiết tha kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp nghĩ đến lợi quyền chung tối cao của hai dân tộc Pháp - Việt, hạ lệnh cho đương cục Pháp khôi phục tình trạng trước ngày 20-11-1946, để cùng Chính phủ Việt Nam thi hành Tạm ước, để xây đắp việc cộng tác Pháp - Việt thân thiện và lâu dài" . Ngày 7-12-1946, Khi tiếp nhà báo Pháp Bécna Đranbê (Bernard Dranber) của tờ Pari - Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh... cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi. Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm, và cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do. Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy. Cả nước Pháp lẫn nước Việt Nam đều không thể phí sức gây một cuộc chiến tranh khốc hại, và nếu phải kiến thiết trên đống hoang tàn thì thật là một điều tai hại" . Chính Moóclie (Morlière), sau khi gặp Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam đầu tháng 12-1946, cũng phải ghi nhân: "Nguyện vọng của Việt Nam là không mở rộng cuộc xung đột Hà Nội và không tấn công nhưng cũng quyết tâm tự vệ chống lại mọi khiêu khích mới". Đáp lại thiện chí hoà bình của Việt Nam, thực dân Pháp, tiêu biểu là lực lượng phản động ở Đông Dương đứng đầu là Đácgiăngliơ (D'Argenlieu) đã tiếp tục lấn tới trắng trợn hơn, đẩy cuộc chiến tranh đi tới bùng nổ, quyết chinh phục Việt Nam bằng vũ lực lần thứ hai.

    Tình thế khẩn trương đang đòi hỏi phải có một quyết định chiến lược, một quốc sách có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của Tổ quốc, tự do của nhân dân và chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam.

    Sáng ngày 17-12-1946, Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của trưởng ban Thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp đã báo cáo về tình hình quân sự diễn ra ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng, v.v...

    Theo Điều 38 của Hiến Pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà vừa mới được Quốc hội thông qua có ghi rõ: "Khi Nghị viện không họp được, Ban Thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến" và Điều 49, điểm k quy định Chủ tịch nước có quyền "tuyên chiến hay đình chiến theo như Điều 38 đã định". Hồ Chí Minh đã báo cáo với Hội đồng Chính phủ và thường trực Quốc Hội để thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước.

    Ngày 18 và 19-12-1946 tại Vạn Phúc, Hà Đông, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Hồ chí Minh chủ toạ, đã quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước và chủ trương kháng chiến của Đảng.

    Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến:

    "Hỡi đồng bào toàn quốc !

    Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa !

    Không ! chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

    Hỡi đồng bào !

    Chúng ta phải đứng lên !

    Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm thì dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

    Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân !

    Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

    Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta !" .

    Cả nước đã đứng lên. Toàn dân chiến đấu với một niềm tin "kháng chiến nhất định thắng lợi ".

    Bản chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" ngày 22-12-1946 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nêu rõ cơ quan lãnh đạo kháng chiến là Đảng và Chính phủ. Về chính quyền, ở bên trên có Chính phủ kháng chiến, Ban Thường vụ Quốc hội, ở dưới có Uỷ ban kháng chiến các khu, các tỉnh, v.v. gồm đại biểu quân, dân, chính hợp thành.

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, quyết liệt trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá... Để sự lãnh đạo và điều hành chiến tranh được tập trung thống nhất, Quốc hội đã giao quyền bính tập trung vào Chính phủ. Ban Thường trực Quốc hội luôn ở bên cạnh Chính phủ để bàn bạc, tham gia ý kiến về các chủ trương, chính sách lớn và giám sát, phê bình Chính phủ về mọi công việc kháng chiến. Song, do chiến tranh diễn ra quyết liệt nên việc triệu tập toàn Ban Thường trực Quốc hội sẽ rất khó khăn. Vì thế cuối tháng 12-1946, Ban thường trực Quốc hội họp ở một địa điểm tại Hà Đông đã quyết định:

    a. Trong thời kỳ kháng chiến vì tình thế khó khăn nên chỉ có Trưởng ban Thường trực Quốc hội ở cùng với Chính phủ để giúp và theo dõi đường lối chính trị, cùng với Chính phủ chỉ đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện;

    b. Các đại biểu Quốc hội sẽ tuỳ năng lực và địa vị mà tham gia vào mọi công tác kháng chiến;

    c. Ban Thường trực thay mặt toàn thể Quốc hội hiệu triệu và nhận các ý nguyện của nhân dân, sửa soạn triệu tập Quốc hội .

    Theo quyết định trên, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn đã luôn luôn ở bên cạnh Chính phủ và tham dự các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để góp ý kiến với Chính phủ trong mọi công tác kháng chiến. Đây là một nét đặc biệt của Quốc hội Việt Nam - Quốc hội kháng chiến.

    Bộ máy kháng chiến đã từng bước ổn định và củng cố. Năm 1947, Chính phủ đã được cải tổ. Một số nhân sĩ, trí thức được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời giữ một số ghế trong Chính phủ nhằm thực hiện tính liên hiệp quốc dân rộng rãi hơn. Phan Anh giữ chức Bộ trưởng Bộ kinh tế; Hoàng Minh Giám giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Tạ Quang Bửu giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đặng Văn Hướng giữ chức Bộ trưởng không giữ Bộ nào. Sau khi Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng qua đời, tháng 11-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Phan Kế Toại giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ Nội Vụ.

    Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tháng 1-1948 nhấn mạnh: phải củng cố chính quyền dân chủ kháng chiến, nêu cao danh nghĩa và uy tín của Chính phủ và Ban thường trực Quốc hội. Vì hoàn cảnh kháng chiến chưa họp được Quốc hội, các đại biểu Quốc hội ở rải rác khắp nơi cũng phải họp ở từng khu, hay từng tỉnh để cùng nhau xem xét tình hình nhân dân, để đạt ý nguyện của dân lên Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ, giúp đỡ Chính phủ và Uỷ ban kháng chiến điều hành công cuộc kháng chiến.

    Mặt trận quân sự giữ vai trò quyết định hàng đầu trong kháng chiến. Chính phủ và Quốc hội rất coi trọng vấn đề quản lý và chỉ huy các lực lượng vũ trang. Ngày 20-1-1948, sau khi được Hội đồng Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội nhất trí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 110/SL thụ cấp Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. Và đến tháng 7-1948, Võ Nguyên Giáp lại giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam. Tiếp đến ngày 19-8-1948, Chủ tịch Hồ chí Minh ký Sắc lệnh 206/SL thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao gồm có: Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ kiêm Chủ tịch Hội đồng Quốc Phòng, Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến, Phó Chủ Tịch và các uỷ viên là Phan Kế Toại, quyền Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, Phan Anh, Bộ trưởng Bộ kinh tế, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng. Một số cán bộ quân sự đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thụ cấp thiếu tướng. Về Chính phủ, ngày 25-7-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Phạm Văn Đồng giữ chức Phó Thủ tướng và được bổ sung giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Ngày 14-5-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 21/SL đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công thương. Việt Nam Công an vụ, một ngành bảo vệ an ninh quốc gia có hệ thống trong toàn quốc đã được thành lập năm 1946. Do yêu cầu đòi hỏi của kháng chiến, ngày 16-2-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 141/SL thành lập Thứ bộ công an và đến tháng 6-1953, Hội đồng Chính phủ đã ra nghị quyết đổi Thứ bộ công an thành Bộ Công an. Trần Quốc Hoàn được cử giữ chức Bộ trưởng. Tháng 3-1954, Nghiêm Xuân Yêm được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông.

    Bộ máy chính quyền các cấp dần dần được củng cố và kiện toàn.

    Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã cũng được bầu lại.

    Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là "Chính quyền dân chủ của nhân dân, nghĩa là của công dân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc và các thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ... Chính quyền đó dựa vào mặt trận dân tộc thống nhất lấy liên minh công nhân, nông dân và lao động trí thức làm nền tảng và do giai cấp công nhân lãnh đạo... Cơ quan chính quyền tối cao toàn quốc là Quốc hội và Hội đồng Chính phủ".

    Trong quá trình kiện toàn bộ máy kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà nước - người trực tiếp thực thi các chủ trương, chính sách của Chính phủ và tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Nhà nước của chúng ta có thực sự dân chủ, vì dân hay không một phần không nhỏ do cán bộ quyết định. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đồng chí Bắc Bộ, gửi các đồng chí Trung Bộ, và thư gửi các nhân viên cơ quan Chính phủ năm 1947 đều nhằm mục tiêu góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà nước. Trong thư gửi các nhân viên cơ quan Chính phủ, Người nói: "Trường kỳ kháng chiến là một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học để rèn luyện cho cán bộ. Vì vậy, chúng ta:

    Phải tuyệt đối giữ kỷ luật.

    Phải tuyệt đối giữ bí mật.

    Đối với đồng sự, phải đoàn kết chặt chẽ, khuyên nhau, giúp nhau.

    Đối với dân chúng, phải thân cận, phải giúp đỡ họ mọi việc, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu" .

    Qua thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (và thư gửi các đồng chí Trung Bộ), Người nói: "Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ xuất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm."

    Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau đây: địa phương chủ nghĩa; óc bè phái; óc quân phiệt quan liêu; óc hẹp hòi; ham chuộng hình thức; làm việc lối bàn giấy; vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm; ích kỷ, hủ hoá... Cán bộ và nhân viên của Đảng và Nhà nước phải "mang toàn bộ tinh thần cách mạng mà khắc phục các khuyết điểm, phát triển các ưu điểm, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nội bộ, mở rộng hàng ngũ, chấn chỉnh công tác để lãnh đạo toàn dân hăng hái kháng chiến để đi đến thắng lợi vẻ vang".

    Mặt trận dân tộc thống nhất cũng được củng cố và từng bước tiến dần tới thống nhất Việt Minh và Liên Việt từ cơ sở đến trung ương nhằm thực hiện khẩu hiệu một dân tộc, một mặt trận. Các mặt hoạt động khác của cuộc kháng chiến, đặc biệt là mặt trận quân sự ngày càng có những bước tiến mới, nhất là sau thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947.

    Để đối lập với Quốc hội và Chính phủ kháng chiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thực dân Pháp đã tìm cách chia rẽ dân tộc, tập hợp những phần tử đối lập, chống phá kháng chiến để làm tay sai cho chúng. Chúng đã dựng lên các "chính phủ" bất hợp pháp hoạt động trong vùng tạm bị chiếm do chúng điều khiển.

    Nhiệm vụ chủ yếu của kháng chiến là đánh giặc cứu nước. Do hoàn cảnh chiến tranh, chiến trường thường bị chia cắt, công tác kháng chiến trên mọi mặt trận rất khẩn trương cho nên Quốc hội không có điều kiện để họp định kỳ như trong thời bình. Quyền lực tập trung vào Chính phủ.

    Các đại biểu Quốc hội tuỳ theo cương vị của mình tiếp tục hoạt động ở địa phương hoặc các cơ quan nhà nước trung ương. Trong tiến trình kháng chiến, trừ một số đã rời bỏ hàng ngũ, trong đó đông đảo nhất là các đại biểu của Việt Quốc và Việt Cách (phái Nguyễn Hải Thần), còn phần đông đại biểu Quốc hội, trên cương vị cụ thể của mình đã gánh vác trọng trách trong mọi nhiệm vụ của kháng chiến, thực sự là những đại biểu ưu tú của nhân dân, do dân lựa chọn, vì quyền lợi của cả dân tộc mà phấn đấu. Cho đến tháng 12-1953, có 58 đại biểu tham dự công tác chính quyền, 24 đại biểu công tác trong lực lượng vũ trang nhân dân, 75 đại biểu công tác ở các ngành chuyên môn, 69 đại biểu ở các đoàn thể nhân dân, 5 đại biểu công tác ở nước ngoài.

    Một số đại biểu đã hy sinh oanh liệt, nêu cao ý chí "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

    Đó là: Lý Chính Thắng, đại biểu Sài Gòn-Chợ Lớn, bị giặc bắt và bắn ở chợ Rẫy năm 1946.

    Thái Văn Lung, đại biểu Gia Định, Khu phó quân khu 7, bị giặc giết ngày 1-7-1946 ở Nam Bộ.

    Siểng, đại biểu Biên Hoà, người dân tộc Khơ Me, bị giặc giết ở Xuân Lộc năm 1947.

    Nguyễn Văn Luyện, bác sĩ, đại biểu Hà Nội, Uỷ viên Ban Thường trực Quốc hội, đã bị giặc giết ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến ở Thủ đô (12-1946).

    Nguyễn Văn Tố, một nhà trí thức yêu nước, đại biểu Nam định, Trưởng ban đầu tiên của Ban Thường trực Quốc hội (và là Bộ trưởng), bị giặc bắt và giết hại năm 1947 ở Bắc Cạn.

    Trần Kim Xuyến, đại biểu Bắc Giang, Phó Giám đốc Nha thông tin, bị giặc bắn chết ở Chúc Sơn năm 1947.

    Lê Thế Hiếu, đại biểu Quảng Trị bị giặc Pháp bắt ở Triệu Phong, bất khuất trước kẻ thù, bị giặc giết tháng 5-1947.

    Nguyễn Văn Triết, đại biểu thủ Dầu Một, bị giặc giết tháng 4-1948.

    Huỳnh Bá Nhung, đại biểu Rạch Giá, bị giặc giết tháng 11-1953...

    "Đối với các vị ấy, nhân dân, Quốc hội, Chính phủ đều mến yêu mãi mãi. Các vị đại biểu kể trên đã từ trần vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì nhiệm vụ kháng chiến, thiệt xứng đáng là đại biểu của nhân dân Việt Nam anh dũng".

    Trong tiến trình kháng chiến, Ban thường trực Quốc Hội đã vượt qua mọi trở ngại của chiến tranh, đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Tại cuộc họp của Ban Thường trực Quốc hội tháng 2-1950, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nêu rõ: "Ban Thường trực Quốc hội và Chính Phủ luôn luôn mật thiết liên lạc, mật thiết công tác trong mọi công việc lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc".

    Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các Uỷ viên trong Ban thường trực được phân đi các địa phương ở Liên Khu III, Liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến. Sau đó các uỷ viên tuỳ theo khả năng và yêu cầu mà tham gia hoạt động kháng chiến ở địa phương, như Uỷ ban kháng chiến hành chính, làm phái viên của Chính phủ ở các khu... Bùi Bằng Đoàn được phân công sát bên cạnh Chính phủ để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Thường trực. Các uỷ viên liên lạc với Trưởng ban thường trực bằng điện và thư. Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban. Năm 1948, Bùi Bằng Đoàn ốm phải đi chữa bệnh. Tôn Đức Thắng giữ chức quyền trưởng ban Thường trực Quốc hội, Tháng 2-1950, Ban Thường trực họp đã bầu bổ sung, ba uỷ viên dự khuyết đã được bầu làm uỷ viên chính thức của Ban Thường trực Quốc hội là Nguyên Thị Thục Viên, Lê Tư Lành và Trần Tấn Thọ thay cho Nguyễn Văn Luyện và Hoàng Minh Châu từ trần, Cung Đình Quỳ đã chạy theo Pháp. Ban Thường trực đã bầu ra một Ban Thường vụ mới gồm có Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt, Phạm Bá Trực, Dương Đức Hiền và Trần Huy Liệu thay mặt Ban Thường trực để giải quyết công việc hằng ngày cũng như liên lạc với Chính phủ. Cũng tại kỳ họp này, Ban Thường trực Quốc hội đã ấn định chương trình hoạt động năm 1950, những phương sách cộng tác với Chính phủ, liên lạc với các đại biểu Quốc hội trong toàn quốc và liên hệ với nhân dân nhằm thực hiện tổng động viên đẩy mạnh kháng chiến; Ban cũng đã quyết định vấn đề dự thảo Bộ luật về dân chủ Việt Nam; quyết định bãi bỏ quyền bất khả xâm phạm của những đại biểu Quốc hội rời bỏ hàng ngũ kháng chiến.

    Các chính sách lớn của Chính phủ như chính sách sản xuất tiết kiệm, chính sách thuế nông nghiệp, phát động quần chúng giảm tô, giảm tức, chính sách ruộng đất... đều được Ban Thường vụ góp ý xây dựng.

    Từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954, dựa vào Hiến pháp được Quốc hội thông qua tháng 11-1946 và thực tiễn kháng chiến, Chính phủ đã ban hành khoảng 400 sắc lệnh và nhiều nghị định, thông tư để điều hành kháng chiến. Các sắc lệnh của Chính phủ được ban hành đều có sự thoả thuận của Ban Thường trực Quốc hội. Ban cũng đã góp ý kiến với Chính phủ về các nghị quyết và chương trình công tác quan trọng.

    Ban Thường vụ rất quan tâm nghiên cứu để dự thảo một số luật và tu chỉnh Hiến pháp. Ngày 18-6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 72/SL lập ra Hội đồng tu luật gồm có đại biểu Chính phủ, đại biểu đoàn thể nhân dân và đại diện Ban Thường trực Quốc hội do Bộ Tư pháp chủ trì. Từ năm 1950, Hội đồng tu luật đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Quốc hội.

    Hội nghị Ban Thường trực Quốc hội họp tháng 2-1951 đặt vấn đề nghiên cứu việc tu chỉnh Hiến pháp, làm bản dự thảo để khi có điều kiện đệ trình Quốc hội, song không thực hiện được.

    Ban Thường trực Quốc hội đã cố gắng tìm cách liên hệ với các đại biểu địa phương. ở Liên khu III và Liên khu V, các đại biểu Quốc hội đã có sáng kiến đặt phòng liên lạc để vừa phối hợp công tác với Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, vừa liên lạc với Ban thường trực Quốc hội.

    Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ đã duy trì mối quan hệ trực tiếp với nhân dân và chính quyền các cấp ở địa phương. Tháng 9-1949, Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ đã tiếp và làm việc với đoàn đại biểu Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ do Lê Đình Thám dẫn đầu ra báo cáo với Trung ương về tình hình kháng chiến ở địa phương.

    Đầu tháng 10-1949, Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ làm việc với Đoàn đại biểu Nam Bộ, gồm các uỷ viên kháng chiến hành chính, các uỷ viên quân sự và đại biểu các đoàn thể quần chúng do Phạm Hùng dẫn đầu ra báo cáo với Chính phủ về tình hình kháng chiến của nhân dân Nam Bộ - "Thành đồng Tổ quốc". Ban Thường trực Quốc hội cùng với Chính phủ đã tổ chức nhiều phái đoàn đi về các địa phương phổ biến đường lối, chủ trương và chính sách của Chính phủ trong kháng chiến, như chủ trương và chính sách thuế nông nghiệp, phát triển thuỷ nông, chuyển hướng canh tác, vận động sản xuất và tiết kiệm, động viên tinh thần kháng chiến của các tầng lớp nhân dân. Năm 1951, một phái đoàn của Chính phủ do Bộ trưởng Hoàng Minh Giám làm Trưởng đoàn và Trần Huy Liệu đại diện Ban Thường trực Quốc hội đã đi Liên khu Việt Bắc và một phái đoàn do Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên dẫn đầu cùng với Bộ trưởng Bồ Xuân Luật và Tôn Quang Phiệt đại diện Ban Thường trực Quốc hội đi Liên khu III và Liên khu IV để giải thích các chính sách của Chính phủ, đặc biệt là chính sách thuế nông nghiệp theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 1-5-1951.

    Quân đội nhân dân là lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt địch trên chiến trường, đã được Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận đặc biệt quan tâm động viên và xây dựng. Ban Thường trực Quốc hội đã đỡ đầu Trung đoàn 101 - một đơn vị chủ lực chiến đấu trên chiến trường Trị - Thiên đau thương anh dũng và kiên cường. Tháng 8-1949, Đại đoàn 308 - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được thành lập. Mặt trận nhận đỡ đầu Đại đoàn. Trong 3 tháng đầu sau khi thành lập, Đại đoàn đã lập được nhiều chiến công mới. Tổng bộ Việt Minh đã biểu dương và tặng Đại đoàn thanh kiếm mang tên "Dân tộc", còn Quốc hội tặng thanh kiếm "Mã đáo thành công". Sau các thắng lợi ở các chiến dịch Biên giới, Tây Bắc..., Ban Thường trực đã cử phái đoàn đi khen ngợi các đơn vị quân đội đã lập chiến công và uý lạo đồng bào vùng mới giải phóng. Ban Thường trực Quốc hội đề nghị Hội đồng Chính phủ xét công trạng để khen thưởng các đơn vị, các chiến sĩ và cán bộ lập được chiến công xuất sắc. Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới mùa thu năm 1950 đã đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng của cuộc kháng chiến. Tại phiên họp giữa tháng 11-1950, Hội đồng Chính phủ đã quyết nghị tuyên dương khen ngợi quân đội và nhân dân đã hăng hái chiến đấu giết giặc lập công. Đặc biệt, Chính phủ tỏ lời khen ngợi cuộc chiến đấu rất anh dũng của quân đội và nhân dân trong chiến dịch giải phóng biên giới và thể theo ý kiến của Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Hội đồng Chính phủ đã đề nghị Chủ tịch nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh hạng 3 cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp để ghi công của Đại tướng trong thắng lợi mùa thu 1950. Hội đồng Chính phủ cũng đã tán thành việc khen thưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch Biên giới.

    Về đối ngoại, từ năm 1950 sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, Ban Thường trực Quốc hội đã có quan hệ với Quốc hội nhiều nước đó. Năm 1951, nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày quốc khánh nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Việt Nam đã cử một phái đoàn đi dự lễ do Hoàng Quốc Việt dẫn đầu. Đoàn gồm có Tôn Đức Thắng đại diện Quốc hội và Mặt trận, Vũ Đình Hoè đại diện Chính phủ, Lê Đình Thám đại diện Hội đồng bảo vệ hoà bình Việt Nam, Nguyễn Thị Thục Viên đại diện phụ nữ, Xuân Thuỷ đại diện báo chí. Đoàn đại biểu Việt Nam là thượng khách của Uỷ ban Chính trị hiệp thương của Trung Hoa. Phái đoàn Việt Nam đã có nhiều cuộc tiếp xúc với nhân dân Trung Hoa. Tiếp đến, Tôn Đức Thắng đã dẫn Đoàn đại biểu Việt Nam đi thăm nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên.

    Về mặt kinh tế, Chính phủ và Quốc hội đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để xây dựng nền kinh tế kháng chiến có tính chất dân chủ mới, đặc biệt là chính sách ruộng đất nhằm từng bước đem lại ruộng đất cho nông dân, thực hiện nhiệm vụ cách mạng ruộng đất trong tiến trình kháng chiến. Tư tưởng chỉ đạo của Đảng là dùng phương pháp cải cách mà dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến Việt Nam, đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là cách của Việt Nam thực hiện cách mạng ruộng đất bằng một đường lối riêng biệt . Đó là một đường lối đúng phù hợp với thực tiễn của cách mạng ở Việt Nam.

    Được sự đồng tình vủa Ban Thường trực Quốc hội, từ năm 1949 trở đi, Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh, nghị định và thông tư về chính sách ruộng đất, về giảm tô, giảm tức. Đó là Sắc lệnh 78/SL ngày 14-7-1949 ấn định mức địa tô và thành lập ở mỗi tỉnh một Hội đồng giảm tô; Sắc lệnh số 88/SL ngày 22-5-1950 quy định thể lệ lĩnh canh ruộng đất; Sắc lệnh số 89/SL ngày 22-5-1950 quy định việc giảm lãi, xoá nợ, hoãn nợ... Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện giảm tô 25% cho nông dân, đã tịch thu ruộng đất của bọn thực dân và lấy ruộng đất của Việt gian đem chia cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng, tạm cấp ruộng đất vắng chủ, chia lại ruộng công cho công bằng hợp lý, v.v... Tính đến năm 1953, ở Nam Bộ, chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân 410.000 hécta ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động. Theo số liệu tính toán từ tài liệu của 3.035 xã ở miền Bắc đã thực hiện cải cách ruộng đất, từ 1945 đến tháng 10-1953 đối với các xã vùng tự do và đến tháng 7-1954 đối với các xã vùng mới giải phóng có 475.900 hécta ruộng đất đã về tay nông dân. Như vậy là quá nửa diện tích ruộng đất do địa chủ chiếm hữu đã được chia cho nông dân. Đây là một thành quả lớn của Nhà nước ta trong việc thực hiện từng bước chính sách ruộng đất.

    Tháng 2-1951, Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp quyết định tách Đảng để lập ra ở mỗi nước trên bán đảo Đông Dương một đảng cách mạng riêng. Đảng bộ Đảng Cộng sản ở Việt Nam được chuyển thành Đảng Lao động Việt Nam và ra công khai trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xoá bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, làm cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất, dân chủ tự do, phú cường và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Đại hội lần thứ II của Đảng là Đại hội kháng chiến thắng lợi. Từ sau Đại hội, mọi mặt kháng chiến đã phát triển mạnh mẽ. Quân và dân Việt Nam giành được những thắng lợi ngày càng to lớn. Cho đến mùa thu năm 1953, cục diện chiến tranh ở Việt Nam và toàn Đông Dương đã có những biến đổi quan trọng. Lực lượng vũ trang đã lớn mạnh về cả chất lượng và số lượng, đã giữ vững được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Hậu phương kháng chiến được mở rộng và củng cố về mọi mặt, vùng tự do khá ổn định. Chính quyền dân chủ nhân dân được kiện toàn. Khối đoàn kết toàn dân được củng cố và phát triền. Điều kiện để giành thắng lợi lớn hơn, thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến ngày càng tăng lên rõ rệt. Quân và dân cả nước đang có những nỗ lực mới để bước vào một thời kỳ đấu tranh quyết liệt. Yêu cầu động viên sức người sức của cho kháng chiến đang đặt ra những đòi hỏi to lớn. Do đó, vấn đề cải thiện đời sống, bồi dưỡng sức dân mà đông đảo là nông dân cũng cần được nâng cao.

    Căn cứ vào các nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và yêu cầu cấp bách của việc bồi dưỡng sức dân, củng cố hậu phương, chi viện cho tiền tuyến..., Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1-1953 đã quyết định phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô giảm tức và cải cách ruộng đất ngay ở các vùng tự do.

    Đầu năm 1953, theo đề nghị của Chính phủ, cuộc Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Uỷ ban Mặt trận Liên Việt toàn quốc triệu tập để thảo luận bản đề án "Phóng tay phát động quần chúng, triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức" của Đảng Lao động Việt Nam. Hội nghị đã nhất trí với bản đề án của Đảng và hiệu triệu quốc dân tích cực thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ.

    Tháng 11-1953, Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã nhất trí thông qua cương lĩnh ruộng đất và quyết định cải cách ruông đất.

    Để thực hiện nhiệm vụ lịch sử đó, theo đề nghị của Chính phủ, Ban thường trực Quốc hội đã quyết định triệu tập Quốc hội họp kỳ họp thứ ba tại Việt Bắc từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953. Trong hoàn cảnh chiến tranh, các đại biểu Quốc hội phải vượt qua nhiều khó khăn mới về được Việt Bắc để họp. Đoàn đại biểu Quốc hội Nam Bộ và đoàn đại biểu Liên Khu V đã vượt qua bao nhiêu núi cao, sông sâu, đồn bốt địch để đến được Việt Bắc. Tổng số đại biểu vể dự kỳ họp là 166 người, trong đó Bắc Bộ có 94 đại biểu, Trung Bộ có 62 đại biểu, Nam Bộ 10 đại biểu.

    Trong diễn văn khai mạc kỳ họp, Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng nêu rõ Quốc hội họp trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến đã lớn mạnh, "thế ta mạnh hơn thế giặc", ta đang tiến tới một giai đoạn mới, đòi hỏi nhân dân phải có một nỗ lực phi thường. Do đó, Chính phủ đã đề ra dự án Luật cải cách ruộng đất. Đó là một quyết sách để bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi, là một nhiệm vụ căn bản của cách mạng dân tộc dân chủ của chúng ta. Với tầm quan trọng đó, quyết sách này phải được Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao thay mặt toàn dân thông qua.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ trình bày trước Quốc hội bản báo cáo "Tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất". Người nêu rõ: "Then chốt thắng lợi của kháng chiến là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố công nông liên minh, củng cố chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển quân đội, củng cố Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt. Chỉ có phát động quần chúng cải cách ruộng đất, ta mới tiến hành những công việc đó được thuận lợi".

    Phó thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đọc báo cáo của Chính phủ về thành tích kháng chiến và dự thảo về Luật cải cách ruộng đất.

    Trần Mạnh Quỳ, đại biểu Quảng Trị; Nguyễn Đình Thi, đại biểu Hải Phòng; Nguyễn Xuân Như, đại biểu Bình Định; Nguyễn Xiển, đại biểu Kiến An; Hoàng Văn Đức, đại biểu Hà Nội; Lê Thị Xuyến, đại biểu Quảng Nam; Phạm Khắc Minh và Sa Văn Minh, đại biểu Sơn Tây; Nguyễn Khánh Kim, đại biểu Cao Bằng; Nguyễn Văn Tây, đại biểu Trà Vinh; Nguyễn Sơn Hà, đại biểu Hải Phòng; Trần Huy Liệu, đại biểu Nam Định; Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu Bắc Ninh; Vương Đình Lương, đại biểu Hà Tĩnh; Ngô Thế Phúc, đại biểu Bắc Ninh đã lần lượt tham luận và tán thành bản dự án Luật cải cách ruộng đất.

    Tham luận của Hoàng Văn Đức, đại biểu Hà Nội đã nhấn mạnh: "Lịch sử thất bại đau đớn của những người tư sản tiến bộ đã từng theo đuổi ý chí xây dựng một nền công nghệ thương nghệp chân chính dân tộc, chứng minh rằng dưới chế độ thực dân và phong kiến tiền đồ của các tầng lớp tiểu tư sản, tư sản là tối tăm... Các tầng lớp tiểu tư sản, tư sản dân tộc căm thù chế độ thực dân, căm ghét chế độ phong kiến... Họ thiết tha mong được đem tài sức, tiền của, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, một nền kinh tế quốc gia... Cải cách ruộng đất mở cho công thương nghiệp một triển vọng tốt đẹp, đem lại cho các người tiểu tư sản, tư sản dân tộc một cơ hội tốt để đem tài sức ra phục vụ nông dân, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Đại diện cho nhóm đại biểu dân chủ trong Quốc hội... chúng tôi hoàn toàn tán thành và hoan nghênh bản đề án Luật cải cách ruộng đất...". Nguyễn Xiển, đại biểu Kiến An, thay mặt nhóm đại biểu Đảng Xã hội Việt Nam trong Quốc hội tuyên bố "hoàn toàn công nhận cải cách ruộng đất trong giai đoạn kháng chiến hiện tại là một nhiệm vụ căn bản và cấp thiết... là hợp lý, là hợp thời, không thể trì hoãn được... Toàn thể Đảng viên Đảng Xã hội Việt Nam, nguyện đứng hẳn về phía phe nông dân lao động để tranh đấu thực hiện Luật cải cách ruộng đất..., tích cực vận động tầng lớp trí thức quyết tâm ủng hộ cuộc đấu tranh của nông dân, cuộc đấu tranh có đủ lý, lợi, tình....

    Đỗ Đức Dục, Trưởng tiểu ban xét dự án Luật cải cách ruộng đất đã đọc báo cáo và đề nghị Quốc hội thông qua toàn bộ Luật cải cách ruộng đất vì nó phù hợp với lợi ích của kháng chiến, hợp với nguyện vọng của nhân dân, thuận với sự vận động khách quan của xã hội Việt Nam. "Thông qua Luật cải cách ruộng đất trong kháng chiến và rồi đây thực hiện cải cách ruộng đất trong kháng chiến, điều đó chứng tỏ rằng lực lượng kháng chiến của nhân dân ta đã mạnh... ý chí sắt đá của nhân dân ta kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng".

    Ngày 4-12-1953, toàn thể Quốc hội biểu quyết nhất trí tán thành Luật cải cách ruộng đất. Quốc hội đã lần lượt thông qua Nghị quyết tín nhiệm Chính phủ; Nghị quyết biểu dương các đại biểu Quốc hội đã từ trần vì nước; Nghị quyết truất quyền đại biểu Quốc hội của những đại biểu rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến.

    Ngày 19-12-1953, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ký Sắc lệnh số 197/SL ban bố "Luật cải cách ruộng đất".

    Luật có 5 chương, 38 điều khoản. Điều 1 đã ghi rõ "mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

    "Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ:

    Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân;

    Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển;

    Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân - lực lượng của kháng chiến;

    Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc".

    Luật cải cách ruộng đất đã quy định các điều khoản về tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất; về cách chia ruộng đất; về cơ quan chấp hành và phương pháp thực hiện cải cách ruộng đất; và điều khoản thi hành.

    Luật cải cách ruộng đất được ban hành là cơ cở và sức mạnh pháp lý để thực hiện triệt để khẩu hiệu người cày có ruộng. Phát biểu tại Kỳ họp thứ ba của Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ. Ngoài ra chúng ta cũng chiếu cố đến đồng bào công thương nghiệp, chiếu cố cán bộ, công nhân, nông dân lao động khác và đồng bào tản cư. Chúng ta cũng chiếu cố các chiến sĩ hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước, chúng ta cũng chiếu cố các chiến sĩ đã hy sinh một phần xương máu hay tính mạng cho Tổ quốc, đó là thương binh và gia đình tử sĩ" .

    Kỳ họp thứ ba của Quốc hội đã nhận được 1.108 bức điện văn của các đảng phái, các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận, các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam, các đơn vị dân công, của các chiến sĩ thi đua, các nhóm phụ lão, các nhóm nhi đồng... gửi chào mừng Quốc hội và hứa sẽ tích cực thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt là vấn đề cải cách ruộng đất.

    Ngày 4-12-1953, kỳ họp của Quốc hội đã bế mạc. Đây là kỳ họp có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Thể theo ý chí, nguyện vọng của nông dân, Quốc hội đã quyết định một quốc sách quan hệ đến thắng lợi của kháng chiến, đến hạnh phúc của toàn dân là thực hiện cải cách ruộng đất trong kháng chiến, đưa "chiếc xe lịch sử dân tộc ta sẽ tiến lên giai đoạn mới vẻ vang. Quốc hội ta là người thợ đóng xe, nhân dân ta là động lực của xe. Chính phủ ta là người lái xe". Điều đó càng nổi bật lên hình ảnh của Quốc hội ta là "Quốc hội cách mạng, Quốc hội kháng chiến, Quốc hội cải cách ruộng đất".

    Thực hiện Luật cải cách ruộng đất, cuộc cải cách ruộng đất đã được tổ chức thí điểm trong phạm vi 6 xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (từ 25-12-1953 đến 30-2-1954) và đợt I của cải cách ruộng đất được tiến hành ở 47 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên và 6 xã tỉnh Thanh Hoá (từ tháng 5 đến tháng 9-1954). Kể từ tháng 4-1953 đến tháng 9-1954, đã tiến hành được 5 đợt giảm tô và 1 đợt cải cách ruộng đất trong vùng tự do. Tuy phạm vi thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất còn hẹp, song có ảnh hưởng tích cực rộng lớn trong cả nước. Quần chúng nông dân được phát động mạnh mẽ, hăng hái đóng góp sức người sức của cho kháng chiến. Mọi hoạt động của kháng chiến đều được đẩy mạnh. Tiền tuyến được tiếp thêm sức mạnh mới.

    Giữa lúc cuộc vận động thực hiện triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất đang diễn ra, trên mặt trận quân sự, quân và dân Việt Nam tiến công mạnh mẽ khắp toàn chiến trường Đông Dương, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Điện Biên phủ là trận tiêu diệt chiến lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, "mãi mãi tiêu biểu cho tinh thần quật cường của dân tộc ta, đem sức mạnh đoàn kết phấn đấu, đem tinh thần anh dũng và tài thao lược của một dân tộc nhỏ, của một quân đội nhân dân còn non trẻ mà chống chọi với quân đội hiện đại của một nước đế quốc".

    Thắng lợi của mặt trận quân sự trên toàn chiến trường trong Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ là cơ sở để Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà mở cuộc tiến công trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, thực hiện đàm phán tại Giơnevơ năm 1954. Sau khi hội nghị giữa bốn cường quốc họp ở Beclin đã đồng ý với đề nghị của Liên Xô triệu tập Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương, Ban Thường trực Quốc hội đã thảo luận và thống nhất với Hội đồng Chính phủ cử Đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi dự Hội nghị Giơnevơ.

    Căn cứ vào tình hình mới đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương mở rộng tháng 7-1954 đã quyết định dùng phương pháp thương lượng để lập lại hoà bình ở Đông Dương. Phương châm, sách lược đấu tranh của ta trong giai đoạn mới là: Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và thực hiện dân chủ trong toàn quốc. Khẩu hiệu của ta là: Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ .

    Ban Thường trực Quốc hội cùng Chính phủ theo dõi diễn biến của hội nghị để có ý kiến chỉ đạo thích hợp và cùng Chính phủ quyết định việc ký hiệp định đình chiến lập lại hoà bình ở Đông Dương. Hiệp định Giơnevơ đã ghi nhận quyền dân tộc cơ bản độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia.

    Hoà bình được lập lại ở Đông Dương. Miền Bắc Việt Nam từ sông Bến Hải trở ra đã hoàn toàn giải phóng. Nhân dân Việt Nam có cơ sở để tiến tới thống nhất Tổ quốc bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước.

    "Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to".

    Một tuần lễ sau ngày ký hiệp nghị, ngày 27-7-1954, vì chưa đủ điều kiện, thời gian để triệu tập Quốc hội, Ban Thường trực Quốc hội tổ chức hội nghị mở rộng của Ban Thường trực Quốc hội, với một số đại biểu có mặt ở Việt Bắc để thảo luận bản hiệp định đình chiến và nhất trí nhận định việc "ký hiệp nghị Giơnevơ là một thắng lợi lớn", đã gửi điện tỏ lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua nghị quyết và lời hiệu triệu gửi cho các vị đại biểu và toàn thể nhân dân.

    Thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao ở Giơnevơ của nhân dân Việt Nam đã phản ảnh xu thế giải quyết chung các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng hoà bình và tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường Đông Dương trong bối cảnh cụ thể của phe xã hội chủ nghĩa thế giới lúc đó.

    Kể từ ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (12-1946) đến khi hoà bình lập lại ở Đông Dương (7-1954), cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam đã trải qua 8 năm. Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã tổ chức toàn dân đoàn kết chiến đấu, đã giữ trọn lời thề độc lập năm 1945, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang đưa kháng chiến đến thắng lợi. Quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, của nhân dân hai nước Lào và Campuchia đã được Chính phủ Pháp và các nước dự Hội nghị Giơnevơ long trọng thừa nhận.

    Đất nước Việt Nam chuyển sang một thời kỳ đấu tranh mới.

    Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội của cả nước, Quốc hội dân tộc thống nhất tiếp tục gánh vác trọng trách đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơ, hiệp thương Tổng tuyển cử trong cả nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, ra sức xây dựng miền Bắc làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.
     
  6. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    QUỐC HỘI VỚI NHIỆM VỤ ĐẤU TRANH ĐỂ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ,
    HIỆP THƯƠNG TỔNG TUYỂN CỬ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT PHỤC HỒI KINH TẾ (1954-1957)


    Hiệp định Giơnevơ ngày 20-7-1954 đánh dấu thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Theo Hiệp định Giơnevơ, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền Nam - Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau. Miền Bắc sau khi hoàn toàn giải phóng đã bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế và văn hoá theo con đường xã hội chủ nghĩa. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước. Song đế quốc Mỹ đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, lập ra chế độ "Việt Nam cộng hoà", hòng chia cắt lâu dài đất nước, biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

    Lợi dụng sự thất bại không tránh khỏi của Pháp, Mỹ đã gây sức ép buộc Bảo Đại ký Sắc lệnh số 38-QT ngày 16-6-1954 chỉ định Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng Chính phủ để lập nội các mới. Ngô Đình Diệm từ Mỹ về Sài Gòn và ngày 7-7-1954 chính thức lên làm Thủ tướng thay Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Ngày 29-12-1954, Pháp lại ký hiệp ước trao quyền hành chính ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm. Giữa năm 1955, Pháp tuyên bố chấm dứt chế độ cao uỷ ở miền Nam, rũ bỏ trách nhiệm một bên phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Ngày 16-7 và ngày 9-8-1955, chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử và Hiệp định Giơnevơ.

    Sau khi dẹp tan các lực lượng chống đối trước mắt là các lực lượng thân Pháp, các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên, ngày 23-10-1955, Diệm bày tỏ "trưng cầu dân ý" phế truất Bảo Đại, công bố "Hiến ước tạm thời" (26-11-1955) về việc thành lập một "Uỷ ban soạn thảo dự án Hiến pháp của quốc gia Việt Nam" âm mưu biến miền Nam thành quốc gia riêng biệt; tuyên bố thành lập chế độ cộng hoà và lên làm Tổng thống, thâu tóm toàn bộ quyền hành trong tay gia đình họ hàng thân tín. Ngày 4-3-1956, Ngô Đình Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và ngày 26-10-1956, công bố "Hiến pháp nước Việt Nam cộng hoà". Rõ ràng việc tổng tuyển cử bầu "Quốc hội" riêng và sự tồn tại của "Việt Nam cộng hoà" là hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thần và lời văn của Hiệp định Giơnevơ. Điều 7 trong Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ ghi rõ: "Hội nghị tuyên bố là về phần Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, sẽ làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những tự do căn bản, đảm bảo trong một chế độ dân chủ thành lập do tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín" và ở Việt Nam "Cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956..., kể từ ngày 20-7-1955, những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó".

    Mặc dù đế quốc Mỹ và tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, song Chính phủ và Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vẫn kiên trì bảo vệ Hiệp định, đấu tranh với Nhà đương cục ở miền Nam Việt Nam phải cùng với miền Bắc tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử trong cả nước. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do toàn dân bầu năm 1946 là Quốc hội thống nhất của cả nước vừa tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đấu tranh để thống nhất đất nước, vừa ra sức khôi phục kinh tế, hoàn thành công cuộc cải cách ruộng đất, bắt đầu xây dựng miền Bắc trong điều kiện hoà bình.

    Sau khi hoà bình được lập lại, Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã về thủ đô. Công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh bắt đầu thực hiện ở miền Bắc. Quốc hội có điều kiện họp thường xuyên theo định kỳ. Nội dung hoạt động của Quốc hội phong phú và toàn diện hơn nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở cả hai miền đất nước.

    Từ ngày 20-3 đến 26-3-1955, Quốc hội đã họp kỳ thứ tư tại Nhà hát lớn Hà Nội. "Khoá họp này là khoá họp đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơ, để đẩy mạnh cải cách ruộng đất, để phục hồi và phát triển kinh tế, để nâng cao đời sống nhân dân, để củng cố chính quyền, củng cố Quân đội nhân dân, tiến lên thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước". Đó cũng là kỳ họp thứ nhất trong hoà bình thắng lợi, giữa thủ đô giải phóng.

    Dự kỳ họp có 206 đại biểu Quốc hội của cả nước, trong đó Bắc Bộ có 102 đại biểu, Trung Bộ có 61 đại biểu, Nam bộ có 37 đại biểu, 6 đại biểu được "truy nhận"; 37 đại biểu vắng mặt vì lý do đau ốm hoặc đang đảm nhiệm những công tác không thể đến được. Phần lớn các đại biểu nói trên đang công tác trong các ngành, các giới và nhiều đại biểu đảm nhiệm những trọng trách trong các cơ quan Đảng và Nhà nước. Tại kỳ họp này, nhiều đại biểu miền Nam lần đầu tiên tham gia kỳ họp của Quốc hội vì trong các kỳ họp trước do hoàn cảnh công tác và kháng chiến không thể có mặt. So với kỳ họp đầu tiên, số đại biểu có mặt tại kỳ họp này giảm tới 1/3 trên tổng số đại biểu chính thức được bầu trước đây. 39 vị đã từ trần, trong đó có Phạm Bá Trực, đại biểu Hà Nam, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một vị linh mục kính chúa yêu nước mất ngày 5-10-1954, là người "đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt Nam...; đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng".

    Quốc hội đã nghe lời chào mừng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo của Ban Thường trực Quốc hội và báo cáo của Chính phủ.

    Báo cáo của Chính phủ đã khái quát thành tích của nhân dân ta từ sau Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp thắng lợi và từ ngày hoà bình lập lại, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta trong giai đoạn mới. Quốc hội còn nghe, thảo luận các báo cáo và ra các nghị quyết quan trọng về vấn đề thi hành Hiệp định Giơnevơ, về cải cách ruộng đất, về kinh tế tài chính, các chính sách dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, văn hoá xã hội.

    Kỳ họp thứ tư của Quốc hội được coi như kỳ họp tổng kết, đánh giá một thời kỳ lịch sử 10 năm của dân tộc từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công và xác định một loạt phương hướng, nhiệm vụ, chính sách lớn để Chính phủ thực thi trong giai đoạn cách mạng mới.

    Nghị quyết của Quốc hội khẳng định:

    "Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hoàn toàn tán thành toàn bộ chính sách và công tác của Chính phủ kể từ ngày bắt đầu kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa nhân dân ta đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ và thắng lợi Giơnevơ và tỏ lời nhiệt liệt hoan nghênh Chính phủ đã thu được kết quả tốt đẹp trong công tác".

    "Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyệt đối tín nhiệm và triệt để ủng hộ Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã điều khiển cuộc kháng chiến đến thắng lợi ngày nay. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tỏ lòng tin tưởng chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, cuộc đấu tranh gay go gian khổ và phức tạp của nhân dân ta để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, trước hết và căn bản là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất bằng Tổng tuyển cử tự do, chống âm mưu của đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản Hiệp định và bọn Ngô Đình Diệm tay sai của chúng phá hoại hoà bình, chia cắt đất nước, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn".

    Kỳ họp thứ tư cũng như trong tất cả các kỳ họp và các hoạt động của mình, Quốc hội đều dành phần quan tâm đặc biệt tới cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam vì sự nghiệp hoà bình thống nhất Tổ quốc. Trong lời chào mừng Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Miền Nam là ruột thịt, xương máu của chúng ta. Miền Nam oanh liệt nêu cao ngọn cờ kháng chiến đầu tiên và đã chiến đấu anh dũng cho đến khi có lệnh ngừng bắn để thi hành Hiệp định Giơnevơ. Miền Nam một lòng một dạ trung thành với Tổ quốc, với dân tộc. Tất cả tâm hồn và nghị lực miền Nam hướng về miền Bắc, về Thủ đô, về Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, về Trung ương Đảng Lao động.

    Quốc hội là tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi.

    Phiên họp này lại nêu cao ý chí đó: Quyết tâm đấu tranh và quyết tâm giành thắng lợi.

    Từ phiên họp đầu tiên tại nơi này cách đây chín năm, Quốc hội đã cùng Chính phủ và sát cánh với nhân dân, đoàn kết và chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Quốc hội đã góp phần rất to lớn vào thắng lợi của kháng chiến. Thắng lợi ấy đã đưa đến lập lại hoà bình trên đất nước yêu quý của chúng ta.

    Hôm nay, tại Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội lại họp để tiếp tục cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc".

    Sau khi nghe báo cáo của Chính phủ và Tiểu ban ngoại giao về hiệp định đình chiến, Quốc hội đã ra quyết nghị về vấn đề hiệp định đình chiến. Bản quyết nghị viết:

    "Quốc hội tỏ rõ ý chí của toàn dân kiên quyết thi hành triệt để Hiệp định Giơnevơ, ủng hộ đường lối thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ.

    Quốc hội tỏ lòng căm phẫn và tố cáo trước nhân dân thế giới những tội ác của đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản Hiệp định và Ngô Đình Diệm phá hoại việc thi hành Hiệp định Giơnevơ, uy hiếp hoà bình ở Đông Dương, ở Đông Nam á và thế giới.

    Quốc hội kêu gọi toàn dân từ Bắc đến Nam đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi xung quanh Hồ Chủ Tịch, kiên quyết phấn đấu cho hoà bình và thống nhất".

    Cùng với cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước, công cuộc khôi phục kinh tế, củng cố và xây dựng miền Bắc vững mạnh được coi là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước.

    Để xây dựng và củng cố miền Bắc, một nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề được Quốc hội đặc biệt quan tâm là việc khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế văn hoá, ổn định và cải thiện đời sống của các tầng lớp lao động ở nông thôn và thành thị. Quốc hội khẳng định nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, làm giảm bớt đời sống khó khăn của nhân dân là phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước, và theo phương châm: khôi phục và phát triển nông nghiệp, khôi phục công nghiệp, điều chỉnh thương nghiệp đều hướng về phục vụ nhân sinh, phục vụ cho sản xuất của nhân dân và công cuộc kiến thiết nước nhà. Khôi phục và phát triển kinh tế được cọi là nền tảng của toàn bộ công tác củng cố miền Bắc, bởi vì chỉ trên cơ sở nền kinh tế được khôi phục và phát triển, chúng ta mới củng cố được miền Bắc về mọi mặt: chính trị, quốc phòng, văn hoá, giáo dục, ngoại giao. Vì thế, ngay sau khi hoà bình vừa lập lại, việc khôi phục kinh tế đã được triển khai, có những việc bắt tay ngay sau khi tiếng súng vừa ngừng nổ như làm lại đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan, xây dựng lại các công trình thuỷ lợi bị tàn phá trong chiến tranh. Sau khi tiếp quản Hà Nội và phần lớn vùng đồng bằng Bắc Bộ, việc khôi phục kinh tế đã được mở rộng và tiến hành trên quy mô lớn. Đầu năm 1955, Chính phủ đã đề ra chương trình hai năm khôi phục kinh tế mà những nét lớn đã được Kỳ họp thứ tư của Quốc hội thông qua. Chương trình kinh tế đó của Chính phủ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ năm. Quốc hội nhấn mạnh: "Nhiệm vụ chung của việc khôi phục kinh tế là dựa vào sức lực của nhân dân ta, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước bạn - sức ta là chính - nhằm khôi phục sản xuất nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với cải cách ruộng đất; khôi phục và phát triển sản xuất thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp và công nghiệp; khôi phục thương nghiệp và bình ổn vật giá; củng cố nền tài chính quốc gia; khôi phục giao thông vận tải".

    Song song với nhiêm vụ khôi phục kinh tế, phát triền văn hoá, nhiệm vụ xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân là một trong những vấn đề được Quốc hội quan tâm đặc biệt. Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khẳng định: "... Củng cố quốc phòng, củng cố quân đội nhân dân là một nhiệm vụ rất quan trọng của Chính phủ và của nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những ý nghĩ vì hoà bình đã trở lại mà coi nhẹ nhiệm vụ ấy đều hoàn toàn sai lầm.

    ... Hiện nay nhiệm vụ của quân đội nhân dân rất nặng nề: bảo vệ hoà bình, bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn biên cương, đảm bảo trật tự và an ninh chung. Quân đội nhân dân cũng là một đội công tác, bất cứ ở đâu, lúc nào, đều vui vẻ, sẵn sàng giúp đỡ Chính phủ và nhân dân, khôi phục kinh tế, tiếp quản vùng giải phóng, v.v...

    Trong lúc kháng chiến, nhân dân và Chính phủ quý mến và ra sức săn sóc bộ đội, bây giờ và sau này, nhân dân và Chính phủ luôn phải làm việc đó. Phải tuyên truyền, giáo dục nhân dân thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội, ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội. Đồng thời phải giáo dục bộ đội yêu thương nhân dân, một lòng trung thành với Tổ quốc, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, tôn trọng và tuân theo pháp luật của Chính phủ". Quốc hội đã thông qua chính sách "củng cố quốc phòng, củng cố quân đội" do Chính phủ đề ra nhằm xây dựng quân đội tiến dần lên theo hướng chính quy hiện đại.

    Về vấn đề tôn giáo, nghị quyết của Quốc hội đề ra 6 nguyên tắc nhằm bảo đảm tự do tín ngưỡng:

    1. Mọi công dân của nước Việt Nam đều được quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng. Các nhà tu hành được quyền tự do giảng đạo ở trong các cơ quan tôn giáo. Sách báo, tài liệu về tôn giáo được xuất bản theo đúng luật lệ của Chính phủ.

    2. Các nhà tu hành, các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi và phải làm nghĩa vụ người công dân Việt Nam, song có châm chước thích đáng về mặt thi hành nghĩa vụ người công dân để cho các nhà tu hành có điều kiện làm nghề tôn giáo.

    3. Các nhà thờ, chùa, thánh thất được tôn trọng và bảo vệ.

    4. Các cơ quan giáo lý, văn hoá, xã hội, các tổ chức công thương nghiệp của tôn giáo được bảo hộ.

    5. Khi thi hành Luật cải cách ruộng đất, các tôn giáo sẽ có sự chiếu cố.

    6. Những kẻ mượn danh nghĩa hoặc vin cớ tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, phá hoại đoàn kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng của người khác hoặc làm trái pháp luật sẽ bị trừng trị.

    Dựa trên 6 nguyên tắc đó, ngày 14-5-1955, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 234/SL về chính sách tôn giáo. Đến tháng 8-1955, Phủ thủ tướng ra Nghị định số 566/TTg thành lập các Ban tôn giáo ở Trung ương, khu và tỉnh.

    Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Một chính sách dân tộc đúng đã trở thành vẫn đề trọng yếu trong toàn bộ chính sách nội trị của Chính phủ. Báo cáo của Chính phủ về thực hiện chính sách dân tộc trong kháng chiến và chính sách khu vực tự trị do Lê Văn Lương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đọc đã đề nghị Quốc hội quyết định chính sách lập các khu tự trị của các dân tộc thiểu số. Ngày 25-3-1955, Quốc hội đã quyết định thông qua chính sách khu vực tự trị của các dân tộc do Chính phủ đề ra. Trên cơ sở đó, ngày 29-4-1955, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 229/SL về chính sách dân tộc và Sắc lệnh số 230/SL quy định việc thành lập Khu tự trị Thái Mèo (Tây Bắc). Khu tự trị Tây Bắc được thành lập gồm 16 châu: Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Sông Mã, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên, Văn Chấn, Than Uyên, Phong Thổ, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, Mường Lay, Mường Tè, và Sình Hồ. Tiếp đến ngày 1-7-1956, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 268/SL quy định việc thành lập Khu tự trị Việt Bắc. Khu tự trị Việt Bắc gồm 5 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang và Thái Nguyên.

    Thực hiện nhiệm vụ cách mạng ruộng đất, tạo điều kiện đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, yêu cầu trước mắt là hoàn thành cải cách ruộng đất. Đến tháng 3-1955, đã thực hiện được 7 đợt giảm tô trong phạm vi 1352 xã thuộc 19 tỉnh trên miền Bắc gồm 5,7 triệu nhân khẩu; cải cách ruộng đất đang ở đợt 3, cả ba đợt cải cách ruộng đất đã diễn ra trong phạm vi 735 xã thuộc 7 tỉnh gồm 1,5 triệu nhân khẩu. Như vậy, kế hoạch giảm tô mới thực hiện được khoảng 40% số xã và cải cách ruộng đất mới đạt khoảng 20% số xã ở đồng bằng và trung du.

    Tiếp tục thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất trong tình hình kháng chiến đã kết thúc, đất nước tạm thời chia làm hai miền, nên Chính phủ đã sửa đổi và bổ sung một số chính sách. Tại Kỳ họp thứ tư Quốc hội thông qua Nghị quyết tán thành những điều bổ sung về cải cách ruộng đất của Chính phủ nhằm đặt cơ sở pháp lý cho việc triển khai cải cách ruộng đất trên quy mô lớn ở miền Bắc trong điều kiện mới. Những điểm bổ sung đó là: dùng hình thức Toà án thay cho những cuộc đại hội đấu tranh của nông dân, thu hẹp diện trưng thu, mở rộng diện trưng mua, quy định việc hiến ruộng, chiếu cố những địa chủ kháng chiến và gia đình địa chủ có con đi bộ đội, cán bộ, viên chức cách mạng, chiếu cố các nhà công thương kiêm địa chủ và những người tu hành.

    Quốc hội cũng bày tỏ tín nhiệm Ban thường trực Quốc hội cũ và bổ sung thêm 3 uỷ viên mới là đại biểu miền Nam. Ban thường trực Quốc hội gồm:


    Trưởng ban: Bùi Bằng Đoàn

    Phó trưởng ban: Tôn Đức Thắng

    Tôn Qung Phiệt

    Uỷ viên chính thức: Trần Văn Cung

    Dương Đức Hiền

    Hoàng Văn Hoan

    Nguyễn Văn Hưởng

    Lê Tư Lành

    Trần Huy Liệu

    YNgông Niêk Đam

    Cao Triều Phát

    Nguyễn Đình Thi

    Trần Tấn Thọ

    Nguyễn Trí

    Nguyễn Thị Thục Viên

    Lê Thị Xuyến

    Kỳ họp thứ năm của Quốc hội tiến hành từ ngày 15 đến 20-9-1955. Tham dự có 211 đại biểu. Kỳ họp này diễn ra trong hoàn cảnh miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng. Cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất đang mở rộng vào vùng mới giải phóng, việc khôi phục kinh tế đang được đẩy mạnh. ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã công khai tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước. Chúng tiếp tục thi hành chính sách độc tài, phát xít dã man. Việc thi hành Hiệp định Giơnevơ chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ giải quyết vấn đề chính trị, đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do. Ngày 6-6-1955, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tuyên bố "sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với những nhà đương cục có thẩm quyền ở miền Nam bắt đầu từ ngày 20-7-1955 để bàn về vấn đề tổ chức tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc vào tháng 7-1956". Ngày 19-7-1955, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ công hoà kiêm Thủ tướng Chính phủ đã gửi công hàm cho Quốc trưởng và Thủ tướng Chính phủ miền Nam Việt Nam đặt vấn đề hiệp thương một cách thiết thực: "Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà chúng tôi đề nghị cùng các ông cử đại biểu để cùng đại biểu chúng tôi mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955 như đã định trong Hiệp định Giơnevơ, tại một địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam do hai bên cùng thoả thuận, để cùng nhau bàn về vấn đề thống nhất nước nhà bằng tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc".

    Kỳ họp thứ năm của Quốc hội đã:

    "1. Vạch ra đường lối, phương châm phấn đấu để thi hành hiệp định Giơnevơ, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, theo phương pháp hoà bình.

    2. Vạch ra những đường lối, phương châm khôi phục kinh tế để củng cố miền Bắc, làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh của toàn dân, để củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất đất nước".

    Quốc hội đã tố cáo và lên án những hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi các nước có liên quan phải tôn trọng và bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Nghị quyết của Quốc hội xác định:

    "Hiện nay, tình hình chính trị và xã hội ở miền Bắc và miền Nam khác nhau. Muốn thực hiện một cách thuận lợi việc thống nhất Tổ quốc, phải chiếu cố đến lợi ích và nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, dùng cách hiệp thương đi đến tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thực hiện thống nhất.

    Dựa trên bản Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ đã vạch rõ đường lối đại đoàn kết toàn dân để cùng nhau đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình.

    Cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước nhà sẽ tiến hành trong toàn quốc theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bí mật. Mục đích của cuộc tổng tuyển cử tự do này là bầu một Quốc hội thống nhất để cử một Chính phủ liên hợp duy nhất cho toàn nước Việt Nam. Việc thành lập Chính phủ liên hợp sẽ tăng cường đoàn kết giữa các đảng phái, các tầng lớp, các dân tộc, các miền trên toàn cõi Việt Nam. Để chiếu cố tình hình khác nhau giữa hai miền, địa phương có quyền ra những luật lệ địa phương thích hợp với đặc điểm của địa phương và không trái với pháp luật chung của Nhà nước".

    Bản nghị quyết nhấn mạnh: "Nhân dân ta bước vào một thời kỳ đấu tranh mới, rất gay go, gian khổ, phức tạp nhưng nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi, cũng như chúng ta đã thắng lợi trong cuộc kháng chiến 8, 9 năm qua. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kêu gọi nhân dân miền Bắc hãy ra sức đẩy mạnh củng cố miền Bắc về mọi mặt. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kêu gọi đồng bào miền Nam hãy đoàn kết đấu tranh chặt chẽ và rộng rãi trong Mặt trận Tổ quốc nhằm giữ gìn quyền lợi hằng ngày của mình và giành hoà bình, thống nhất cho Tổ quốc".

    Quốc hội đã quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội đã thông qua quyết định mở rộng và bổ sung Chính phủ: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được cử làm Thủ tướng Chính phủ, và hai Phó Thủ tướng: Phan Kế Toại kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Võ Nguyên Giáp kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bộ Công thương chia làm hai bộ: Bộ Công nghiệp và Bộ Thương nghiệp; Bộ Giao thông công chính chia làm hai bộ: Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ Thuỷ lợi và Kiến trúc. Đặt thêm Bộ Cứu tế. Bộ Tuyên truyền đổi là Bộ Văn hoá và cử Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.

    Với quyết định mở rộng và bổ sung Chính phủ của Quốc hội (20-9-1955) nên thành phần Chính phủ gồm có:

    Chủ tịch: Hồ Chí Minh

    Thủ tướng kiêm Bộ trưởng

    Bộ Ngoại giao: Phạm Văn Đồng

    Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Phan Kế Toại

    Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Võ Nguyên Giáp

    Bộ trưởng Bộ Công an: Trần Quốc Hoàn

    Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Nguyễn Văn Huyên

    Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến

    Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện: Nguyễn Văn Trân

    Bộ trưởng Bộ Thuỷ Lợi và Kiến trúc: Trần Đăng Khoa

    Bộ trưởng Bộ Công nghiệp: Lê Thanh Nghị

    Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp: Phan Anh

    Bộ trưởng Bộ Y tế: Hoàng Tích Trí

    Bộ trưởng Bộ Lao động: Nguyễn Văn Tạo

    Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè

    Bộ trưởng Bộ Văn hoá: Hoàng Minh Giám

    Bộ trưởng Bộ Thương binh: Vũ Đình Tụng

    Bộ trưởng Bộ Cứu tế: Nguyễn Xiển

    Bộ trưởng Bộ Nông lâm: Nghiêm Xuân Yêm

    Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Phạm Hùng

    Về Quốc kỳ, Quốc hội quyết định vẫn giữ nguyên lá cờ đỏ sao vàng lich sử như Sắc lệnh ngày 5-9-1945 của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và quyết định của Quốc hội kỳ họp thứ hai trước đây, nhưng mũi ngôi sao thon lại, năm góc thẳng đều nhau trông đẹp hơn, khoẻ hơn so với những cánh sao góc rộng. Cũng như quốc kỳ, để tôn trọng tính chất lịch sử, Quốc ca vẫn là bài "Tiến quân ca", giữ nguyên phần nhạc chỉ sửa lại phần lời cho phù hợp.

    Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, vẫn chưa có quốc huy.

    Vì vậy, cần phải có quốc huy để tượng trưng cho Nước. Sau khi cân nhắc nhiều mẫu, Quốc hội đã nhất trí chọn mẫu Quốc huy do Chính phủ đệ trình. Quốc huy hình tròn: nền đỏ sao vàng là tượng trưng cho lịch sử cách mạng và tiền đồ sán lạn của dân tộc cũng như cho chính thể dân chủ cộng hoà; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp; bánh xe tượng trưng cho công nghiệp.

    Quốc hội bầu cụ Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay cụ Bùi Bằng Đoàn đã từ trần ngày 13-4-1955. Cụ Bùi Bằng Đoàn là một thân sĩ, đại biểu Hà Đông được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Trong mấy năm bị ốm nặng, cụ vẫn cố gắng góp phần vào công việc của Quốc hội, làm tròn nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân.

    Kỳ họp thứ sáu của Quốc hội diễn ra từ ngày 29-12-1956 đến 25-1-1957, có 230 đại biểu về dự họp. Đây là kỳ họp dài nhất của Quốc hội khoá I và diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt. Cải cách ruộng đất đã hoàn thành căn bản ở các vùng đồng bằng, trung du và đã thu được những thắng lợi quan trọng. Tuy nhiên, cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã phạm những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài. Những sai lầm này diễn ra trong bối cảnh một số vụ biến động chính trị nảy sinh ở một vài nước xã hội chủ nghiã Đông Âu đã gây thêm những xao xuyến trong nhân dân. Vì vậy, kỳ họp này của Quốc hội nhằm "kiểm điểm công tác nội trị và ngoại giao của Chính phủ trong năm qua, xác định các thành tích đã đạt được, phê phán các sai lầm và thiếu sót, nhận định tình hình trong nước và thế giới, để quyết định các đường lối và chủ trương mới".

    Quốc hội một lần nữa khẳng định lập trường của nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là kiên quyết nêu cao ngọn cờ hoà bình thống nhất, tiếp tục cuộc đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân chủ bằng phương pháp hoà bình, và coi đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Quốc hội nhất trí các chủ trương của Chính phủ về tiếp tục củng cố miền Bắc, giữ vững và phát triển phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, trước mắt là tăng cường đấu tranh để khôi phục và phát triển quan hệ bình thường giữa hai miền Nam - Bắc. Đồng thời, Quốc hội cũng đề nghị Chính phủ tăng cường hơn nữa việc lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức cho cuộc đấu tranh đó: Tăng cường công tác giáo dục và tuyên truyền về đường lối đấu tranh thống nhất sâu rộng trong toàn dân hai miền Nam - Bắc, khắc phục những tư tưởng sai lầm như nôn nóng, chủ quan hoặc bàng quan, xây dựng và bổ sung các chính sách cụ thể, nhất là các chính sách về quan hệ hai miền Nam - Bắc, kiện toàn các cơ quan làm nhiệm vụ trên về cán bộ, phương tiện để làm nhiệm vụ. Quốc hội nêu rõ: "Để đoàn kết toàn dân trên cơ sở bản Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hoan nghênh mọi cố gắng, mọi cống hiến của tất cả những người Việt Nam yêu nước cho sự nghiệp thống nhất nước nhà; hoan nghênh mọi sự tiếp xúc, trao đổi ý kiến giữa các cá nhân, các đoàn thể ở miền Bắc, miền Nam, trong nước, ngoài nước, nhằm thống nhất hành động chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phấn đấu cho một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".

    Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 30-5-1957, Hội đồng Chính phủ đã sáp nhập Ban Thống nhất và Ban Quan hệ Bắc - Nam thành Ban Thống nhất Trung ương để tăng cường và tập trung chỉ đạo đấu tranh.

    Quốc hội đã theo dõi từng bước cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và bè lũ tai sai. Quốc hội đã nhiều lần bày tỏ kịp thời thái độ của mình đối với diễn biến tình hình chính trị miền Nam như lên án chính sách đàn áp khủng bố dã man của Mỹ - Diệm và ủng hộ đồng bào miền Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng. Trên diễn đàn của tất cả các kỳ họp Quốc hội từ sau hoà bình, những báo cáo và tham luận về tình hình miền Nam và đấu tranh thống nhất Tổ quốc luôn luôn là tiếng nói xúc động sâu xa mạnh mẽ nhất. Quốc hội dành phần ưu ái quan tâm đặc biệt tới đồng bào, chiến sĩ và con em miền Nam tập kết ra Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho anh chị em về mọi mặt công tác, học tập, sinh hoạt để ngày càng tiến bộ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp củng cố miền Bắc. Đồng bào miền Nam chẳng những quan tâm tới những thành tựu của miền Bắc về chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, thể hiện tính ưu việt của chế độ miền Bắc so với chế độ thực dân mới ở miền Nam, mà còn rất chú ý tới sự đóng góp của anh em miền Nam tập kết ra Bắc trong công cuộc kiến thiết miền Bắc. Miền Nam theo dõi công tác, sinh hoạt và bước trưởng thành của con em mình để đặt tin tưởng vào miền Bắc. Trên thực tế, anh chị em tập kết đã tích cực và có nhiều cống hiến xây dựng miền Bắc. Báo cáo của Chính phủ về tình hình đấu tranh thống nhất trước Kỳ họp thứ bẩy của Quốc hội đã nêu ra một vài con số cụ thể. Tính về số lượng thì có trên 6000 cán bộ, công nhân viên quê ở miền Nam trong ngành công nghiệp tham gia phục hồi và phát triển các hệ thống nông giang và ngành vận tải thuỷ. ở nhiều ngành công tác, thành phần lãnh đạo và kỹ thuật, anh chị em miền Nam chiếm một tỷ lệ quan trọng, như cảng Hải Phòng chiếm tỷ lệ 95%. Anh chị em đã có nhiều cố gắng trong công tác. Sự trưởng thành và đóng góp của anh chị em miền Nam tập kết đã thường xuyên được Quốc hội quan tâm theo dõi và động viên, khích lệ.

    Đối với công tác cải cách ruộng đất, Quốc hội đã dành phần chú ý đặc biệt để đánh giá kết quả và sai lầm.

    Trước những sai lầm nghiêm trọng trong công tác thực hiện cải cách ruộng đất, nhất là các đợt 4 và 5, ngay từ tháng 9-1956, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 10, nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm trong lãnh đạo, đã công khai tự phê bình trước toàn Đảng, toàn dân, vạch kế hoạch kiên quyết lãnh đạo sửa sai và đã xử lý kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo của Đảng giữ vai trò chủ yếu trong chỉ đạo cải cách ruộng đất.

    Vào hạ tuần tháng 10-1956, Hội đồng Chính phủ họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiểm điểm việc thi hành Luật cải cách ruộng đất và công tác chỉnh đốn tổ chức, quyết định những chính sách cụ thể để sửa sai lầm. Hội đồng Chính phủ quyết định các Uỷ ban cải cách ruộng đất Trung ương và địa phương không có quyền chỉ đạo mà chỉ là những cơ quan nghiên cứu trực thuộc chính quyền các cấp, quyết định bãi bỏ các Toà án nhân dân đặc biệt; quyết định kỷ luật những cán bộ trực tiếp chỉ đạo cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã phạm sai lầm nghiêm trọng.

    Báo cáo của Chính phủ trước Kỳ họp thứ sáu của Quốc hội do Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc ngày 2-1-1957, kiểm điểm về công tác cải cách ruộng đất đã nêu rõ: Cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã căn bản hoàn thành, giai cấp địa chủ đã căn bản bị đánh đổ, chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất bị xoá bỏ. Nông dân đã làm chủ nông thôn, nguyện vọng lâu đời của người nông dân là người cày có ruộng đã được thực hiện. Sức sản xuất ở nông thôn đã được giải phóng, đời sống nhân dân bước đầu đã được cải thiện, mở đường cho việc phát triển công thương nghiệp, góp phần quan trọng vào công cuộc củng cố miền Bắc, phát triển kinh tế và văn hoá. Đó là những thành tích căn bản.

    Đồng thời báo cáo của Chính phủ cũng kiểm điểm những sai lầm nghiêm trọng phạm phải trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất. Trước hết đó là những sai lầm trong việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ ở nông thôn. Từ đó dẫn đến những sai lầm trong việc phân định thành phần, đưa nhiều nông dân lao động lên địa chủ. Ngay trong nông dân, việc phân định thành phần cũng có nhiều trường hợp không đúng, làm cho nhiều trung nông bị đả kích, thậm chí một số bần cố nông cũng bị xử lý sai. Đối phú nông thì không liên hiệp mà là cô lập bao vây, đối xử gần như địa chủ. Đối với địa chủ thì thiếu sự phân biệt đối đãi, không chiếu cố đúng mức địa chủ kháng chiến, gia đình địa chủ có con em đi bộ đội, làm cán bộ, gia đình địa chủ có công với cách mạng. Việc chấp hành chính sách tôn giáo và chính sách dân tộc trong cải cách ruộng đất cũng phạm phải nhiều thiếu sót, sai lầm. Đặc biệt nghiêm trọng là sai lầm trong việc chấp hành "đánh địch" và công tác chỉnh đốn tổ chức; không tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách đoàn kết của mặt trận, dẫn đến đánh tràn lan, đánh vào địch đồng thời cũng đánh cả vào ta, dùng truy bức, bắt bớ, xử trí khiến một số người vô tội bị thiệt mạng.

    Những sai lầm trên có nhiểu nguyên nhân khách quan, chủ quan và nguồn gốc sâu xa, trong đó có những vấn đề cơ bản như chưa nhận thức đầy đủ những đặc điểm của xã hội nước ta, mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam. Đó là những sai lầm trong tư tưởng chỉ đạo, tả huynh, áp dụng máy móc những kinh nghiệm nước ngoài. Việc tổ chức thực hiện đã có những thiếu sót rất nghiêm trọng. Các cơ quan cải cách ruộng đất tổ chức thành một hệ thống riêng từ trên xuống dưới với những quyền hạn quá rộng, vượt ra ngoài pháp luật của Nhà nước. Hiện tượng độc đoán, chuyên quyền đã trở nên trầm trọng, chủ quan, tự mãn, trấn áp, xử lý bừa bãi, đàn áp ý kiến và thúc ép làm theo ý mình; quan liêu, thoát ly thực tế, không lắng nghe ý kiến quần chúng, không quan tâm đến lợi ích quần chúng, thiếu kiểm tra đúng đắn kịp thời, buông lỏng lãnh đạo, theo đuổi quần chúng nên càng làm cho những sai lầm kéo dài, mãi tới khi trầm trọng mới được phát hiện. Báo cáo của Chính phủ viết:

    "Những sai lầm nghiêm trọng ấy đã gây thiệt hại cho chúng ta, đau thương cho đồng bào về tính mệnh, tài sản, tinh thần, tình cảm, gây tình hình căng thẳng ở nông thôn, ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết, tinh thần phấn khởi sản xuất và lòng tin tưởng của nhân dân.

    Trước những sai lầm nghiêm trọng đã phạm trong công tác cải cách ruộng đất, trước những hậu quả của sai lầm ấy, Chính phủ vô cùng thông cảm với mọi nỗi đau xót và lo lắng của đồng bào, thành khẩn nhận trách nhiệm của mình với đồng bào".

    Sau khi nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm thiếu sót, Chính phủ đã đề ra một kế hoạch sửa chữa sai lầm gồm ba bước cụ thể, với tinh thần kiên quyết, khẩn trương, thận trọng, từng bước có trọng điểm, có kế hoạch chu đáo, có lãnh đạo chặt chẽ và cảnh giác trước sự phá hoại của địch.

    Quốc hội đã nghe và thảo luận nội dung báo cáo trên của Chính phủ. Cuộc thảo luận diễn ra rất sôi nổi, nhiều khi căng thẳng nhưng chân tình xây dựng và đầy tinh thần trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội đã nhất trí ra Nghị quyết về công tác cải cách ruộng đất, tán thành đánh giá của Chính phủ về thành tích và khuyết điểm sai lầm trong cải cách ruộng đất và những biện pháp sửa sai. Đồng thời Quốc hội đồng ý với Chính phủ thi hành kỷ luật một số cán bộ có trách nhiệm chính trong việc phạm sai lầm này.

    Về phần mình, với tư cách là cơ quan lập pháp, Quốc hội đã khẳng định "Luật cải cách ruộng đất và các chính sách bổ sung mà Quốc hội đã thông qua căn bản là chính xác". Những sai lầm và thiếu sót nêu trên hoàn toàn xa lạ với luật pháp và chính sách của Nhà nước xét cả về mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm tiến hành và những nguyên tắc cơ bản đề ra trong giảm tô và cải cách ruộng đất.

    Nghị quyết của Quốc hội đã chỉ rõ những sai lầm nghiêm trọng của cuộc vận động cải cách ruộng đất là "trái với một số điều đã ghi trong Luật cải cách ruộng đất mà Quốc hội đã thông qua, trái với chế độ pháp trị dân chủ của Nhà nước, với chính sách của Mặt trận Tổ quốc".

    Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và Ban Thường trực Quốc hội với tư cách là cơ quan thường vụ của Quốc hội, còn có quyền giám sát việc thi hành luật pháp, xét và đề ra để Chính phủ sửa đổi hoặc huỷ bỏ những sắc lệnh, nghị định không phù hợp. Nhiều ý kiến của các đại biểu Quốc hội và nhân dân về sai lầm trong giảm tô và cải cách ruộng đất đã sớm được phản ánh lên Quốc hội. Song Ban Thường trực Quốc hội đã không đi sát nhân dân, tìm hiểu nguyên nhân, không kịp thời góp ý kiến với Chính phủ để việc sửa chữa được thực hiện sớm. Đứng về mặt này mà xét, Quốc hội và Ban Thường trực Quốc hội cũng chịu một phần trách nhiệm về những sai lầm kéo dài và trầm trọng trên đây. Ban thường trực Quốc hội đã kiểm điểm, tự phê bình và nhận phần trách nhiệm của mình trước Quốc hội, trước nhân dân.

    Nghị quyết trên của Quốc hội thể hiện quyết tâm cao của Nhà nước trong việc sửa chữa sai lầm về cải cách ruộng đất .

    Nhiệm vụ sửa chữa sai lầm cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã được tiến hành khẩn trương và thận trọng, từng bước có trọng điểm.

    Nhân dân, cán bộ, đảng viên cũng như các đại biểu Quốc hội bị xử lý oan, bị xâm phạm danh dự, tài sản trong cải cách ruộng đất và chấn chỉnh tổ chức đã thể hiện tinh thần yêu nước và thái độ xây dựng, đặt lợi ích của nhân dân, của cách mạng lên trên hết. Và từ khi được trả lại tự do và danh dự, phần lớn đã tham gia ngay vào việc sửa sai, góp phần ổn định nông thôn và lòng dân, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới.

    Riêng đối với những trường hợp một số đại biểu Quốc hội bị xử lý sai trong cải cách ruộng đất, ngày 20-9-1956, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Thủ tướng Chính phủ thành lập một Ban điều tra gồm năm người do Uỷ viên Thường trực Quốc hội Trần Huy Liệu làm Trưởng ban, có nhiệm vụ xem xét vấn đề này và báo cáo trước kỳ họp cuối năm 1956 của Quốc hội. Sau khi nghiêm túc điều tra, sáu đại biểu Quốc hội bị bắt giam và xử lý trong cải cách ruộng đất, đã được trả lại tự do, danh dự, tài sản và công quyền.

    Sự thành khẩn và nghiêm khắc thừa nhận sai lầm đã thể hiện tinh thần trách nhiệm của Đảng, Quốc hội và Chính phủ trước nhân dân, làm cho nhân dân yên tâm, tin tưởng, đồng tình và ủng hộ chính sách sửa sai của Đảng và Nhà nước. Nhờ đó mà kế hoạch sửa sai đã nhanh chóng được hoàn thành tốt.

    Quốc hội đã thảo luận đánh giá toàn bộ các hoạt động nội trị, ngoại giao của Chính phủ và kết luận: "Nhìn chung thì thành tích là chủ yếu, là căn bản và nhất định ngày càng được phát huy thêm; sai lầm khuyết điểm là bộ phận, là tạm thời, nhất định khắc phục được và hiện đang được khắc phuc. Quốc hội nhất trí quyết nghị nhiệt liệt hoan nghênh và hoàn toàn tín nhiệm Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo" .

    Việc xây dựng một hệ thống pháp luật nhằm thực hiện quyền dân chủ cho nhân dân và đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trên quy mô ngày càng lớn đã trở thành yêu cầu bức thiết.

    Do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do hoàn cảnh chiến tranh, việc xây dựng luật pháp của Nhà nước ta còn chậm trễ. Cho đến Kỳ họp thứ sáu, trải qua hơn 10 năm hoạt động, ngoài bản Hiến pháp năm 1946, Quốc hội chỉ thông qua dự án Luật lao động (11-1946) và Luật cải cách ruộng đất (12-1953).

    Dưới chế độ dân chủ cộng hoà, quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam đã dần dần được nâng cao. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, một số quyền bị hạn chế như quyền ứng cử, bầu cử vào các cơ quan chính quyền địa phương, quyền tự do thân thể... Giờ đây, trong điều kiện hoà bình, những biện pháp đặc biệt của thời kỳ kháng chiến cần được sửa đổi. Hơn nữa, các sắc lệnh đã ban hành về các quyền tự do dân chủ, có chỗ không còn phù hợp, có chỗ cần phải thống nhất lại thành một đạo luật để việc áp dụng được dễ dàng thuận lợi. Về hình thức cũng có nhiều luật không được xây dựng theo đúng các nguyên tắc pháp chế. Nhiều quy định cần phải do sắc lệnh đề ra thì lại để thông tư hay nghị định làm thay. Vì vậy, cùng với việc giáo dục cán bộ, nhân dân tôn trọng pháp luật, cần phải quy định bằng luật các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Kỳ họp thứ sáu đánh dấu bước phát triển mới trong chức năng lập pháp của Quốc hội.

    Quốc hội đã thông qua bốn luật: về quyền tự do hội họp; quyền lập hội; về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; về chế độ báo chí.

    Luật quy định quyền tự do hội họp có 10 điều. Luật khẳng định "Quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do hội họp" (Điều 1).

    "Người nào lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục, sẽ bị truy tố trước Toà án và xử lý theo luật lệ hiện hành, và cuộc hội họp sẽ bị cấm hoặc bị giải tán" (Điều 7).

    Luật quy định quyền lập hội có 12 điều ghi rõ: "Quyền lập hội của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích của nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta" (Điều 1). "Mọi người đều có quyền lập hội, trừ những người mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật. Mọi người có quyền tự do vào hội thành lập hợp pháp và có quyền tự do ra hội" (Điều 2).

    Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân có 5 chương gồm 19 điều. Luật quy định: "Quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm các quyền ấy" (Điều 1). Việc bắt giam người phạm đến pháp luật Nhà nước, việc khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín phải theo thủ tục quy định chặt chẽ.

    Các luật về bảo đảm tự do thân thể và các quyền tự do dân chủ nói trên đã được phổ biến rộng rãi, góp phần làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ chủ trương mở rộng và bảo đảm quyền dân chủ là phù hợp với lợi ích của Nhà nước và quyền lợi của nhân dân.

    Luật về chế độ báo chí có 3 chương gồm 19 điều. Luật "bảo đảm quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí và ngăn cấm những kẻ lợi dụng quyền ấy để làm phương hại đến công cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của nước nhà" (Điều 1). "Báo chí dưới chế độ ta, bất kỳ là của một cơ quan chính quyền, đảng phái chính trị, đoàn thể nhân dân hoặc của tư nhân cũng đều là công cụ đấu tranh của nhân dân, phải phục vụ quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, ủng hộ chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hoà" (Điều 2).

    Quốc hội đã thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề kinh tế, tài chính ngân sách, văn hoá xã hội, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đưa Quân đội nhân dân tiến dần lên chính quy và hiện đại, công tác dân tộc, ngoại giao, sửa đổi Hiến pháp, tổ chức Quốc hội, v.v...

    Về việc sửa đổi Hiến pháp, nghị quyết của Quốc hội đã chỉ rõ: xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển quan trọng, miền Bắc đang xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, cho nên Hiến pháp năm 1946 cần phải sửa đổi và bổ sung để phản ánh đúng thực tế xã hội, những thắng lợi của cách mạng và nêu rõ định hướng tiến lên của cách mạng. Vì vậy, Quốc hội đã tán thành đề nghị của Ban Thường trực về việc cần sửa đổi Hiến pháp 1946 và phải cử ra một ban phụ trách việc nghiên cứu về dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Ngày 23-1-1957, Quốc hội đã bầu ra Ban sửa đổi Hiến pháp gồm 29 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban.

    Về tổ chức, Quốc hội quyết định sẽ tổ chức tuyển cử bổ sung để bầu một số đại biểu thay thế cho số đại biểu đã khuyết, quy định về hoạt động của đại biểu Quốc hội là phải giữ sự liên hệ mật thiết với nhân dân ở các địa phương đã bầu ra mình hoặc là ở một nơi thuận lợi, quy định số lượng và quyền hạn của Ban Thường trực giữa hai kỳ họp Quốc hội.

    Quốc hội quy định giữa hai kỳ họp của Quốc hội, Ban Thường trực có nhiệm vụ và quyền hạn:

    - Triệu tập Quốc hội và giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội;

    - Biểu quyết sắc luật do Chính phủ đề ra. Những sắc luật đó đều đem trình Quốc hội vào kỳ họp gần nhất. Những sắc luật được Quốc hội chuẩn y trở thành những đạo luật của Nhà nước;

    - Xét và đề ra để Chính phủ sửa đổi hoặc huỷ bỏ những sắc lệnh và nghị định không phù hợp với những đạo luật và sắc luật;

    - Thoả thuận với Chính phủ về cử người thay thế hoặc bổ sung Bộ trưởng. Danh sách những Bộ trưởng được cử sẽ đệ trình Quốc hội trong kỳ họp gần nhất;

    - Thoả thuận với Chính phủ về việc thi hành những hiệp ước ký với nước ngoài. Những hiệp ước này phải đưa trình Quốc hội trong kỳ họp gần nhất.

    Ban Thường trực Quốc hội có 15 Uỷ viên chính thức và ba Uỷ viên dự khuyết, gồm một Trưởng ban, một Phó ban, một Thư ký và các Uỷ viên. Các Uỷ viên trong Ban thường trực Quốc hội không giữ chức vụ trong Chính phủ.

    Quốc hội sẽ họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ; trong trường hợp cần thiết sẽ họp bất thường.

    Về hoạt động của các đại biểu Quốc hội, bản nghị quyết kiến nghị giải quyết một số vấn đề cụ thể để các đại biểu làm tròn nhiệm vụ và nhấn mạnh các đại biểu Quốc hội phải giữ liên hệ với nhân dân địa phương đã bầu ra mình hay là một nơi thuận lợi với hoàn cảnh cư trú. Những chủ trương và biện pháp cụ thể về tổ chức trên đây đã giúp cho Ban thường trực và các đại biểu Quốc hội hoạt động có kết quả, kịp thời và tăng cường được mối liên hệ với nhân dân.

    Quốc hội đã bầu Ban Thường trực mới gồm:

    Trưởng ban: Tôn Đức Thắng

    Phó trưởng ban: Tôn Quang Phiệt

    Uỷ viên thư ký: Trần Đình Tri

    Uỷ viên chính thức: Hoàng Văn Hoan

    Trần Huy Liệu

    YNgông Niêk Đam

    Xuân Thuỷ

    Nguyễn Văn Hưởng

    Dương Bạch Mai

    Trần Mạnh Quỳ

    Nguyễn Thị Thục Viên

    Dương Đức Hiền

    Lê Huy Vân

    Bồ Xuân Luật

    Hoàng Văn Đức

    Uỷ viên dự khuyết: Ngô Tử Hạ

    Nguyễn Sơn Hà

    Nông Văn Lạc

    Sau kỳ họp thứ sáu của Quốc hội, Hội đồng Chính phủ đã đẩy mạnh công tác sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Kế hoạch khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá, ổn định đời sống nhân dân tiếp tục tiến triển tốt. Chính quyền, nền Quốc phòng toàn dân, an ninh chính trị được củng cố. Các Nghị quyết của Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ sáu đã đẩy mạnh thêm một bước các sinh hoạt dân chủ của nhân dân, hướng dẫn đúng đắn các hoạt động của Nhà nước, tăng cường các hoạt động của Quốc hội. Về mặt lập pháp, Quốc hội quy định: các chính sách lớn của Nhà nước về mặt pháp lý phải được quy định bằng những đạo luật do Quốc hội biểu quyết. Khi Quốc hội chưa họp được thì phải được quy định bằng những sắc luật do Chính phủ đề nghị và Ban Thường trực Quốc hội biểu quyết. Các sắc luật đó phải được Quốc hội thông qua trong kỳ họp gần nhất. Vì vậy, biểu quyết các sắc luật của Chính phủ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Ban thường trực Quốc hội.

    Tiểu ban Luật pháp của Ban Thường trực Quốc hội được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu các dự án sắc luật, trao đổi với các cơ quan pháp chế của Chính phủ để có sự thống nhất ý kiến trước khi đưa ra Ban Thường trực Quốc hội thảo luận và biểu quyết. Ban Thường trực Quốc hội đã xem xét và biểu quyết bốn sắc luật để đệ trình tại kỳ họp thứ bảy sắp tới. Đó là Sắc luật cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế; Sắc luật về chế độ xuất bản; Sắc luật quy định những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp được ghi ở Điều 4 đạo luật về tự do thân thể; Sắc luật quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.

    Ban Thường trực Quốc hội cũng thường xuyên theo dõi và nghiên cứu các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ nhằm bảo đảm cho các văn bản ấy không trái với các đạo luật hiện hành; liên hệ, tiếp xúc với nhân dân, nhất là với cử tri của mình để báo cáo trước nhân dân về kết quả của kỳ họp, phổ biến nghị quyết của Quốc hội; lắng nghe ý kiến của nhân dân, những khiếu tố của dân là một nhiệm vụ quan trọng của đại biểu Quốc hội. Liên hệ chặt chẽ với dân là một đặc tính thuộc về bản chất của Quốc hội của dân, do dân và vì dân. Sau kỳ họp thứ sáu của Quốc hội, chỉ trong vòng một tháng đã có 180 đại biểu về tiếp xúc với nhân dân, tổ chức hơn 620 cuộc nói chuyện trước 60 vạn người từ Trung ương đến địa phương, trong các xí nghiệp, nông trường, đơn vị bộ đội, trường học. Quốc hội đã cử các đoàn đại biểu về động viên nhân dân Mai Lâm chống lụt năm 1957 và nhân dân 14 tỉnh chống hạn đầu năm 1958, v.v.. Ban Thường trực Quốc hội đã cử một số Uỷ viên Thường trực và đại biểu gia nhập các phái đoàn Quốc hội, hay phái đoàn của Chính phủ, Mặt trận đi công tác ở các địa phương. Các đơn từ phản ánh tình hình, các yêu cầu khiếu nại của nhân dân gửi lên Ban Thường trực Quốc hội đã được Tiểu ban dân nguyện nghiên cứu và tuỳ từng trường hợp phối hợp với các cơ quan Chính phủ giải quyết thích đáng. Ban Thường trực Quốc hội, qua công tác điều tra, căn cứ vào phản ánh của đại biểu Quốc hội và đơn từ của nhân dân, đã góp ý với Chính phủ để giải quyết tích cực và cụ thể. Mối quan hệ của Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ ngày càng chặt chẽ và tăng cường. Chính phủ hết sức coi trọng việc thực hiện chu đáo các nghị quyết của Quốc hội.

    Đối với tham luận của các đại biểu đọc trước Quốc hội, các đề nghị và nhận xét của đại biểu Quốc hội phản ánh tình hình địa phương đều được các Bộ, Ban chú ý nghiên cứu khai thác. Nhiều đề nghị xác đáng được ghi vào trong chương trình hoạt động của các ngành. Trong mối quan hệ hàng ngày, Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội liên lạc với nhau mật thiết. Sau mỗi cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, mỗi khi có những quyết định quan trọng, Chính phủ đều cử đại diện đến báo cáo trước hội nghị Ban Thường trực Quốc hội. Do đó, Ban Thường trực Quốc hội có điều kiện góp ý vào những vấn đề quốc kế dân sinh quan trọng của đất nước. Ngoài ra, để Ban Thường trực Quốc hội theo dõi được tình hình chung, nắm được tình hình hoạt động của Chính phủ và cũng để Chính phủ biết được hoạt động của Ban thường trực Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, Văn phòng Phủ Thủ tướng và Văn phòng Ban thường trực Quốc hội đã thường xuyên trao đổi tài liệu, tin tức, chương trình công tác. Mối quan hệ giữa Ban thường trực Quốc hội và các đại biểu Quốc hội được tăng cường hơn thông qua việc liên hệ thường xuyên, trao đổi thư từ, cung cấp tài liệu, tổ chức gặp gỡ để các đại biểu hiểu rõ được tình hình hoạt động của các cơ quan nhà nước, theo dõi được việc thi hành các nghị quyết của Quốc hội. Ngược lại, Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ cũng nắm vững hơn tình hình các địa phương, nguyện vọng của nhân dân và việc chấp hành các chủ trương, chính sách ở từng ngành, từng địa phương một cách cụ thể.

    Về mặt kiện toàn tổ chức, Ban Thường trực Quốc hội đã quyết định tăng thêm số lượng các Uỷ viên chuyên trách, tăng cường các bộ phận giúp việc về hành chính và nghiên cứu của Ban. Ba Tiểu ban nghiên cứu đã được thành lập: Tiểu ban luật pháp phụ trách nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến công tác pháp luật, Tiểu ban tuyển cử bổ sung phụ trách nghiên cứu việc chuẩn bị thực hiện nghị quyết tuyển cử bổ sung, Tiểu ban dân nguyện phụ trách việc nghiên cứu các đơn từ, nguyện vọng, các ý kiến của nhân dân đề đạt lên Quốc hội. Mỗi tiểu ban đều có Uỷ viên thường trực phụ trách và một số cán bộ giúp việc.

    Nhờ kiện toàn tổ chức, nên Ban Thường trực Quốc hội bảo đảm tốt hơn các nhiệm vụ được Quốc hội giao phó.

    Ban sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội quyết định thành lập ngày 23-1-1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban đã làm việc khẩn trương và thận trọng theo kế hoạch ba bước: Bước thứ nhất, nghiên cứu bản Hiến pháp năm 1946, tham khảo Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa và Hiến pháp một số nước tư bản có tính chất điển hình, dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Bước thứ hai, đưa ra trưng cầu ý kiến của nhân dân một cách có tổ chức. Bước thứ ba, hoàn chỉnh bản dự thảo để trình Quốc hội.

    Quan hệ với Quốc hội các nước trên thế giới dần dần được mở rộng. Quốc hội đã cử đại biểu tham gia các đoàn đại biểu của Chính phủ đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa. Từ 6-7 đến 30-8-1957, đoàn đại biểu của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã đi thăm: Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Cộng hoà dân chủ Đức, Hunggari, Anbani, Rumani, và Cộng hoà liên bang Nam Tư. Cuộc đi thăm này đã phát triển và củng cố tình hữu nghị, đoàn kết giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa; nâng cao địa vị quốc tế của Việt Nam, tăng cường sự hợp tác kinh tế và văn hoá của Việt Nam với các nước bạn, v.v.. Quốc hội chưa có điều kiện để cử các phái đoàn đi thăm các nước, song đã cố gắng đặt quan hệ trao đổi thư từ, tài liệu với Quốc hội Triều Tiên, Anbani, Trung Quốc, Rumani, Bungari, Tiệp khắc. Quốc hội Việt Nam cũng đã tỏ rõ thái độ ủng hộ của mình với Quốc hội Inđônêxia, Ai Cập.

    Quốc hội và Chính phủ đã đón đoàn đại biểu do Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô Vôrôsilốp sang thăm Việt nam (5-1957).

    Thượng tuần tháng 8-1957, Ban Thường trực Quốc hội đã đón tiếp Chủ tịch Quốc hội Inđônêxia do bác sĩ Xactônô đến thăm Việt Nam. Tiếp theo, Ban Thường trực Quốc hội lại đón đoàn đại biểu Quốc hội Miến Điện gồm 12 nghị sĩ của hai viện: Viện Dân tộc và Viện Đại biểu do Thakim Thein Maung, Phó Chủ tịch Viện Dân tộc liên bang, dẫn đầu đến thăm Việt Nam. Được tiếp xúc với các chính khách, đại biểu các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, Đoàn đại biểu Inđônêxia và Liên bang Miến Điện đều cảm thấy nhân dân Việt Nam tha thiết yêu chuộng hoà bình, chân thành mong muốn quan hệ hữu nghị với các nước trong khu vực.

    Ban Thường trực Quốc hội cũng có cuộc tiếp xúc với một số hạ nghị sĩ Anh đến thăm Việt Nam, giúp cho các vị khách hiểu đúng đắn về việc thi hành Hiệp định Giơnevơ và việc kiến thiết miền Bắc của nhân dân Việt Nam.

    Các hoạt động đối ngoại của Ban Thường trực Quốc hội đã góp phần nâng cao địa vị quốc tế của Việt Nam, xây dựng mối quan hệ hoà bình, hữu nghị và hợp tác với Quốc hội và nhân dân các nước nói trên, có lợi cho công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

    Mùa thu năm 1957, Kỳ họp thứ bảy của Quốc hội được triệu tập, họp từ ngày 10 đến ngày 19-9-1957. Tham dự kỳ họp có 217 đại biểu. Sau khi nghe diễn văn khai mạc kỳ họp của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng, Quốc hội đã nghe báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng đoàn đại biểu của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đi thăm chín nước xã hội chủ nghĩa; báo cáo của Ban Thường trực Quốc hội do Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Quang Phiệt trình bày hoạt động của Ban về các vấn đề lập pháp, vấn đề liên hệ với nhân dân, vấn đề chuẩn bị tuyển cử bổ sung, vấn đề quan hệ với Quốc hội các nước, vấn đề kiện toàn tổ chức; báo cáo của Trần Huy Liệu về công tác sửa đổi Hiến pháp; báo cáo của Phạm Hùng về tình hình đấu tranh thống nhất.

    Quốc hội đã thông qua bốn Sắc luật và Luật công đoàn do Chính phủ trình.

    Sắc luật về chế độ xuất bản, có 4 chương, gồm 21 điều. Sắc luật này đề ra nhằm tôn trọng và "Bảo đảm quyền tự do xuất bản của nhân dân và ngăn ngừa sự lợi dụng các quyền tự do ấy để làm phương hại đến công cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của nước nhà" (Điều 2). "Tất cả các xuất bản phẩm đều không phải kiểm duyệt trước khi xuất bản, trừ trong tình thế khẩn cấp, nếu Chính phủ xét cần" (Điều 1). Cùng với Luật báo chí, Sắc luật quy định chế độ xuất bản đã phòng ngừa được những hành động phá hoại và bảo đảm thực sự quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Nó đã tạo cho Nhà nước cơ sở pháp lý, nắm vững việc lãnh đạo công tác xuất bản từ Trung ương đến địa phương, bước đầu nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân. Đó là công cụ sắc bén đấu tranh bảo vệ nền văn hoá dân tộc, tiến bộ, lành mạnh, ngăn chặn bọn đầu cơ chính trị, văn hoá, lợi dụng quyền tự do dân chủ để tuyên truyền xuyên tạc, đầu độc nhân dân.

    Sắc luật về những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp có 4 điều nhằm kịp thời giữ kẻ phạm pháp đã gây thiệt hại đến sự an toàn và tài sản của Nhà nước, đến trật tự xã hội, tính mạng và tài sản của nhân dân. Trong những trường hợp cụ thể, luật ghi rõ bất kể công dân nào cũng có quyền bắt và giải ngay tới chính quyền, công an có quyền bắt giữ trước khi có lệnh viết của cơ quan tư pháp cấp tỉnh, thành phố hoặc Toà án binh.

    Sắc luật về cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế có 8 điều nhằm mục đích bảo đảm bình ổn vật giá, phát triển sản xuất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân, bảo hộ và khuyến khích những người kinh doanh chính đáng, nâng cao đời sống của nhân dân. Mặc dầu Nhà nước đã có nhiều cố gắng nhưng nạn đầu cơ tích trữ cho đến lúc này vẫn còn tồn tại. Vả lại tâm lý đầu cơ chưa phải có thể gột rửa được trong một thời gian ngắn. Vì vậy, Sắc luật này còn có tác dụng lâu dài trong công cuộc kiến thiết miền Bắc.

    Sắc luật về quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp có 5 chương gồm 70 điều. Sắc luật quy định bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và kín. Tất cả mọi công dân Việt Nam, kể cả trong Quân đội, không phân biệt dân tộc, gái trai, nghề nghiệp, giàu nghèo, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, thời hạn cư trú (trừ trường hợp phạm pháp và người mất trí) từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử. Sắc luật này nhằm bảo đảm thực hiện quyền tự do bầu cử, ứng cử của nhân dân, trong khi chờ đợi Hiến pháp mới. Những quy định của sắc luật góp phần thực hiện việc mở rộng sinh hoạt dân chủ, phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của nhân dân, tăng cường mối liên hệ giữa chính quyền với nhân dân, củng cố và phát triển chính quyền dân chủ nhân dân để củng cố miền Bắc ngày càng vững mạnh.

    Luật công đoàn gồm 4 chương với 22 điều. Luật định rõ: "Công đoàn là tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân tự nguyện lập ra. Tất cả những người lao động chân tay và lao động trí óc làm công ăn lương đều có quyền gia nhập công đoàn" (Điều 1). Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công đoàn là "tổ chức giáo dục, đoàn kết thống nhất lực lượng lao động chân tay và lao động trí óc, làm trụ cột của chính quyền dân chủ nhân dân và Mặt trận dân tộc thống nhất" (Điều 4). Công đoàn có nhiệm vụ động viên lao động chân tay và trí óc, phát huy tinh thần yêu nước, tích cực lao động sản xuất, nâng cao ý thức làm chủ đất nước, bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống công nhân viên chức, đoàn kết ủng hộ lao động và đồng bào miền Nam, nâng cao tinh thần quốc tế vô sản. Việc quy định rõ rệt bằng một đạo luật vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức công đoàn, những quan hệ giữa công đoàn và các cơ quan chính quyền, giữa công đoàn và xí nghiệp Nhà nước, xí nghiệp tư bản tư doanh; bảo đảm bằng một đạo luật những phương tiện hoạt động của công đoàn, quyền tham gia quản lý sản xuất và quyền giám sát của quần chúng lao động, có một ý nghĩa rất lớn. Đó là một bảo đảm chắc chắn để người lao động Việt Nam làm chủ đất nước mình.

    Ngoài việc thông qua bốn Sắc luật và Luật công đoàn, Quốc hội đã quyết toán ngân sách năm 1956, bàn kỹ kế hoạch nhà nước năm 1957. Trong quá trình thảo luận về kế hoạch nhà nước và ngân sách, Quốc hội đã nhấn mạnh ba vấn đề cấp bách là vấn đề đời sống của công nhân viên chức, vấn đề giảm nhẹ biên chế và vấn đề chống lãng phí. Nét nổi bật của kỳ họp này là Quốc hội đã thẳng thắn nêu các nhược điểm, khuyết điểm của các cơ quan nhà nước trong việc chấp hành đường lối, chính sách mà Quốc hội đã thông qua. Các hiện tượng lãng phí, quan liêu, trì trệ trong công tác đã bị phê phán nghiêm khắc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Chính phủ "thành thật tiếp thu những ý kiến phê bình của các vị đại biểu Quốc hội và quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm của mình".

    Trong thời gian Quốc hội đang họp, Đoàn đại biểu ấn Độ do bác sĩ Xavapali Radacrisan, Phó Tổng thống đã đến thăm Việt Nam. Nhân dịp này, đoàn đã đến thăm Quốc hội. Trong lời chào Phó Tổng thống ấn Độ, Trưởng ban Thường trực Tôn Đức Thắng đã nói rõ: Nhân dân hai nước Việt Nam và ấn Độ cùng chung một mục đích là đấu tranh cho độc lập, dân chủ, hoà bình. Mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước đang phát triển. Việt Nam coi ấn Độ là một người bạn đã có những đóng góp lớn trong việc giữ gìn hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, ấn Độ đã và đang góp phần quan trọng trong việc lập lại và củng cố hoà bình ở Đông Dương. Việt Nam mong muốn và sẽ cố gắng làm cho tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước thêm bền chặt.

    Kỳ họp thứ bảy của Quốc hội diễn ra trong tháng 9-1957, năm cuối của kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá, hoàn thành cải cách ruộng đất, đẩy mạnh cuộc đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Hoạt động trong hoàn cảnh hoà bình xây dựng đất nước, Quốc hội có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai ngày càng sâu rộng mọi hoạt động của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội; đã quyết định các quyết sách trọng đại của quốc gia, triển khai nhiệm vụ lập pháp, thực hiện có hiệu lực hơn chức năng của Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, của nhân dân.
     
  7. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    QUỐC HỘI VỚI NHIỆM VỤ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC,
    ĐẤU TRANH THỰC HIỆN CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở MIỀN NAM TIẾN TỚI THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (1958 - 1960)


    Sau ba năm phấn đấu, miền Bắc đã kết thúc thắng lợi nhiệm vụ khội phục kinh tế. Sản xuất nông nghiệp vượt xa mức trước chiến tranh: 3,9 triệu tấn lương thực năm 1957 so với 2,4 triệu tấn năm 1939. Hầu hết các xí nghiệp cũ đã được khôi phục và xây dựng được gần 50 xí nghiệp mới. Tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, giao thông vận tải được khôi phục nhanh chóng và mở rộng. Thành phần kinh tế quốc doanh ngày càng lớn và rộng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động kinh tế nước ta đã trở lại bình thường, văn hoá, giáo dục được phát triển, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện. Chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố, an ninh quốc phòng được giữ vững.

    Ở miền Nam, cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại chính sách thực dân của Mỹ và chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm ngày càng diễn ra quyết liệt. Bằng chính sách "tố cộng", "diệt cộng" đẫm máu, chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây cho cách mạng miền Nam những tổn thất lớn. Cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn chống chế độ độc tài, chống khủng bố, đòi các quyền dân chủ, dân sinh, v.v... đã lôi cuốn hàng triệu lượt người tham gia. Nhiều đơn vị vũ trang với quy mô nhỏ đã lần lượt ra đời ở nhiều nơi, nhất là ở Nam bộ nhằm bảo vệ lực lượng cách mạng, bảo vệ các cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng và tiến hành hoạt động diệt ác trừ gian, tạo thế cho cách mạng phát triển. Thực tiễn đấu tranh với chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đã làm cho nhân dân miền Nam, trước hết là bộ phận tiền phong cách mạng càng nhận thức sâu sắc thêm rằng muốn chống lại Mỹ-Diệm để cứu nước và tự cứu lấy mình không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng. Cách mạng miền Nam đang tích cực chuẩn bị tạo thế để chuyển mình sang một thời kỳ đấu tranh quyết liệt.

    Kỳ họp thứ tám của Quốc hội được triệu tập trong bối cảnh đó. Quốc hội đã họp từ ngày 16 đến ngày 29-4-1958 với sự tham dự của 224 đại biểu. Kỳ họp Quốc hội lần này đã "đánh dấu một chặng đường thắng lợi đã qua và đưa đến một thời kỳ đấu tranh và xây dựng mới của nhân dân ta".

    Quốc hội đã tập trung thảo luận về nhiệm vụ của toàn dân trong giai đoạn mới là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

    Quốc hội ra nghị quyết về nhiệm vụ kế hoạch ba năm (1958-1960) và kế hoạch phát triển kinh tế năm 1958. Nghị quyết khẳng định:

    "Quốc hội xác nhận rằng miền Bắc nước ta đã chấm dứt giai đoạn khôi phục kinh tế và chuyển vào giai đoạn phát triển kinh tế và cải tạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội; bước vào kế hoạch ba năm, mở đầu một giai đoạn mới có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng miền Bắc tiến dân lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

    Quốc hội thông qua bản kế hoạch phát triển kinh tế và văn hoá năm 1958. Trong khi thực hiện, Chính phủ vẫn phát huy mọi khả năng tiềm tàng để quyết tâm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch".

    Đưa miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn mới, "đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi phải có những chính sách, những biện pháp về công tác tổ chức phù hợp với tình hình mới.

    Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống ấm no cho toàn dân ta. Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loại người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khăn nhất. Mỗi người chúng ta phải chuẩn bị tư tưởng và nghị lực để vượt qua mọi thử thách và hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng này".

    Quốc hội đã thông qua nghị quyết về toàn bộ công tác của Chính phủ, những chủ trương lớn nhằm phát triển, cải tạo kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, nêu cao sự đoàn kết đấu tranh của toàn dân và của nhân dân miền Nam nhằm thực hiện thống nhất nước nhà.

    Quốc hội đã thảo luận để làm sáng tỏ thêm vai trò lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam. Trong diễn văn bế mạc kỳ họp, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng đã nhấn mạnh: "Sự lãnh đạo của Đảng đã cần thiết từ trước đến nay, thì từ nay về sau trên đoạn đường kiến thiết xã hội chủ nghĩa mới mẻ, vinh quang nhưng cũng rất khó khăn và phức tạp, lại càng cần thiết hơn nữa".

    Quốc hội đã nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày về công tác sửa đổi Hiến pháp. Ban sửa đổi Hiến pháp đã hoàn thành bước đầu bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi và chuẩn bị chuyển sang bước thứ hai là trưng cầu ý kiến của nhân dân, trước hết là ý kiến của các chính đảng, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan chính quyền. Về việc tuyển cử bổ sung theo nghị quyết của Quốc hội kỳ họp thứ sáu, Ban Thường trực trong quá trình chuẩn bị đã nhận được nhiều thư và ý kiến trực tiếp của nhiều đại biểu đề nghị không nên tuyển bổ sung mà nên đợi sau khi có Hiến pháp mới sẽ tuyển cử lại Quốc hội thì hợp lý hơn. Vì vậy, Quốc hội đã quyết nghị tạm hoãn việc tuyển cử bổ sung chờ đến lúc Hiến pháp sửa đổi được thông qua sẽ xét lại. Về mặt lập pháp, Quốc hội đã thông qua Luật về tổ chức chính quyền địa phương và Luật về chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân.

    Luật tổ chức chính quyền địa phương có 5 chương, gồm 43 điều. Luật định rõ chính quyền địa phương được tổ chức như sau: Các khu tự trị, các thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Các huyện có Uỷ ban hành chính. Các khu phố ở các thành phố và thị xã lớn có Ban hành chính khu phố. Các thành phố có thể chia thành các khu phố có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Điều kiện thành lập khu phố có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính... do Hội đồng Chính phủ quy định. Luật quy định rõ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quan hệ và nội dung hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp một cách thống nhất. Tiếp theo Luật bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp, việc thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương có tác dụng quan trọng nhằm củng cố hệ thống chính quyền nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp hoạt động có hiệu quả làm tròn được nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

    Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có 5 chương gồm 48 điều quy định về các loại sĩ quan, quân hàm, chức vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan. Đạo luật này nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên theo hướng chính quy hiện đại và tăng cường lực lượng quốc phòng. Quân đội Việt Nam muốn tiến lên không ngừng cần phải có những cán bộ có ý thức đầy đủ về nhiệm vụ, quyền hạn, vinh dự của người quân nhân cách mạng, lấy công tác quân sự làm nghề nghiệp của mình, được học tập rèn luyện kỹ càng về nghiệp vụ qua thực tiễn chiến đấu và công tác cũng như qua các trường học quân sự chính quy. Đó là những sĩ quan, những người làm nhiệm vụ chỉ huy trong quân đội. Đối với bản thân cán bộ Quân đội, luật này đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, xác nhận vinh dự và trách nhiệm đối với nhân dân, với Tổ quốc, nâng cao phẩm chất chính trị, khả năng chuyên môn và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân.

    Để tăng cường bộ máy nhà nước, Quốc hội thông qua đề nghị của Chính phủ cử thêm hai Phó Thủ tướng Chính phủ là: Trường Chinh và Phạm Hùng. Cử Nguyễn Duy Trinh làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng và Nguyễn Văn Trân làm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; chia Bộ thương nghiệp thành hai bộ: Bộ Nội thương do Đỗ Mười làm Bộ trưởng và Bộ Ngoại thương do Phan Anh làm Bộ trưởng; chia Bộ Thuỷ lợi và kiến trúc thành hai Bộ: Bộ thuỷ lợi do Trần Đăng Khoa làm Bộ trưởng và Bộ Kiến trúc do Bùi Quang Tạo làm Bộ trưởng; lập Toà án tối cao và hệ thống Toà án, Viện công tố và hệ thống công tố (cả hai tách khỏi Bộ Tư Pháp và có quyền hạn trách nhiệm ngang một bộ) trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Bùi Lâm được cử làm Viện trưởng Viện công tố; một Phó Chánh án sẽ làm quyền Chánh án. Nâng Ban dân tộc thành Uỷ ban Dân tộc có quyền hạn trách nhiệm ngang một Bộ trực thuộc Hội đồng Chính phủ do Chu Văn Tấn làm Chủ nhiệm; lập Uỷ ban Khoa học có quyền hạn trách nhiệm ngang một Bộ trực thuộc Hội đồng Chính phủ.

    Về mặt tổ chức của Ban Thường trực, Quốc hội đã chuẩn y nghị quyết ngày 13-4-1958 của Ban, chấp nhận việc từ chức uỷ viên Ban Thường trực của Hoàng Văn Đức và cử Ngô Tử Hạ Uỷ viên dự khuyết làm Uỷ viên chính thức thay Hoàng Văn Đức và nghị quyết ngày 23-4-1958 của Ban về việc cử thêm một Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội nữa là Hoàng Văn Hoan.

    Kỳ họp thứ tám của Quốc hội "có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đến vận mệnh của toàn dân ta, của Tổ quốc ta" . Quốc hội đã thông qua cương lĩnh đấu tranh của nhân dân miền Bắc là hoà bình tiến dần lên Chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội xác nhận con đường tiến dẫn lên chủ nghĩa xã hội của miền Bắc và vai trò lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam là nội dung cốt lõi của kỳ họp thứ tám.

    Sau kỳ họp thứ tám, gần 40 đoàn đại biểu của Quốc hội đã đi về các địa phương, các đơn vị bộ đội, xí nghiệp, trường học... báo cáo kết quả của kỳ họp.

    Đối với các đạo luật được thông qua ngay sau kỳ họp, Chính phủ đã ra Sắc lệnh công bố, đồng thời cũng ban hành thêm các Thông tư, Điều lệ hướng dẫn việc thi hành các đạo luật đó. Ngày 20-6-1958, Phủ Thủ tướng ra Nghị định số 308/TTg ban hành Điều lệ quân hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam. Phủ Thủ tướng ra Thông tư số 289/TTg về kiện toàn chính quyền địa phương; Nghị định số 420/TTg ban hành điều lệ tạm thời về tổ chức các cấp ở khu tự trị Việt Bắc.

    Về mặt tổ chức Nhà nước, Ban Thường trực Quốc hội đã thông qua đề nghị của Hội đồng Chính phủ cử Hoàng Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, sang giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính thay Lê Văn Hiến đi nhận nhiệm vụ mới; Trần Mạnh Quỳ sang giữ chức Phó tổng Thanh tra Chính phủ và thôi giữ chức Uỷ viên Ban Thường trực Quốc hội; Nguyễn Sơn Hà, Uỷ viên dự khuyết lên làm Uỷ viên chính thức thay Trần Mạnh Quỳ.

    Về đối ngoại, Ban thường trực Quốc hội đã cử một đoàn đại biểu gồm năm người do cụ Tôn Đức Thắng làm trưởng đoàn đi thăm các nước: Cộng hoà Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức, Cộng hoà nhân dân Hunggari, Cộng hoà nhân dân Bungari, Cộng hoà nhân dân Anbani, Cộng hoà nhân dân Ba Lan, Cộng hoà nhân dân Mông Cổ. Tháng 10 -1958, Ban Thường trực Quốc hội đã tiếp đoàn đại biểu nước Cộng hoà nhân dân Bungari do Vancô Secvencốp dẫn đầu sang thăm Việt Nam.

    Hoạt động của Chính phủ và Quốc hội trong vòng gần một năm kể từ sau kỳ họp thứ tám của Quốc hội giúp cho Đảng, Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch định toàn bộ công tác kinh tế, văn hoá trong những năm sắp tới, nhất là kế hoạch kinh tế 3 năm 1958 - 1960.

    Tháng 12-1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ mười bốn, quyết định phương hướng, nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch kinh tế và văn hoá (1958 - 1960), chủ trương đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    Kỳ họp thứ chín của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được triệu tập và họp từ ngày 9 đến ngày 14-12-1958 với sự có mặt của 207 đại biểu.

    Căn cứ vào báo cáo của Chính phủ về tình hình và nhiệm vụ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày và thuyết trình của Tiểu Ban nghiên cứu các báo cáo của Chính phủ, Quốc hội đã ra Nghị quyết thông qua toàn bộ kế hoạch ba năm (1958 - 1960) - Kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá. Nghị quyết của Quốc hội nhấn mạnh: "Cần phải đưa công cuộc phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá tiến lên theo một tốc độ nhanh và mạnh; Căn bản hoàn thành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể và thành phần kinh tế tư bản tư doanh trong thời gian từ hai đến ba năm tới, đồng thời ra sức mở mang xây dựng cơ bản, phát triển lực lượng của thành phần kinh tế quốc doanh. Cần phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp; dựa vào sản xuất phát triển mà nâng cao một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và tăng cường củng cố quốc phòng". Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh; đồng thời ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân".

    Về mặt tổ chức nhà nước, tại kỳ họp này, Quốc hội đã phê chuẩn đề nghị của Hội đồng Chính phủ để Nguyễn Duy Trinh thôi giữ chức Bộ trưởng Phủ Thủ tướng để giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước; Nguyễn Văn Trân, Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện kiêm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; Lê Văn Hiến, Bộ trưởng, giữ chức Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; Phạm Ngọc Thạch giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế; Trường Chinh, Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Các Nghị quyết của kỳ họp thứ chín đã được 30 đoàn đại biểu Quốc hội đi báo cáo trước nhân dân ở các địa phương. Sau kỳ họp, Chính phủ đã cử đại diện đến các phiên họp của Ban Thường trực để báo cáo một số công tác quan trọng của Chính phủ. Tháng 2-1959, Thủ tướng Chính phủ và Tổng Giám đốc Ngân hàng đã báo cáo về chủ trương thay đổi đơn vị tiền tệ, phát hành tiền mới, đổi tiền cũ. Tháng 5-1959, Chính phủ đã báo cáo về quy hoạch Sông Hồng. Ban Thường trực thấy đây là một công trình xã hội chủ nghĩa to lớn đòi hỏi phải được nghiên cứu chu đáo về mọi mặt, phải được cán bộ các ngành và quần chúng tham gia ý kiến để xây dựng quy hoạch được tốt. Ban Thường trực trong phiên họp tháng 5-1959 đã nhất trí với Hội đồng Chính phủ về việc giải thể hai Bộ Cứu tế xã hội và Thương binh vì sau bốn năm hoà bình, công tác thương binh và liệt sĩ đã giải quyết được phần lớn. Những công việc còn lại của hai bộ được chuyến giao cho các Bộ Nội vụ, Lao động và Y tế đảm nhiệm.

    Ngày 1-4-1959, Ban sửa đổi Hiến pháp đã công bố bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi cho toàn dân thảo luận. Nhiều Uỷ viên Ban Thường trực Quốc hội và đại biểu Quốc hội đã đi giới thiệu bản Hiến pháp sửa đổi trong nhiều cuộc họp của cán bộ, bộ đội và nhân dân.

    Ban Thường trực Quốc hội và toàn thể đại biểu Quốc hội luôn luôn quan tâm theo dõi và ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam. Ngày 23-1-1959, phiên họp bất thường của Ban Thường trực và các đại biểu Quốc hội có mặt tại Hà Nội đã ra tuyên bố phản đối nhà cầm quyền miền Nam giết hại hàng loạt đồng bào ta, điển hình là vụ đầu độc hàng ngàn đồng bào yêu nước tại trại tập trung Phú Lợi ở Nam bộ; kêu gọi đồng bào trong cả nước đấu tranh đòi giải tán các trại tập trung ở miền Nam, đòi nhà đương cực miền Nam phải trả lời bức Công hàm ngày 22-12-1958 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đề nghị những biện pháp lập quan hệ bình thường giữa hai miền.

    Từ ngày 20 đến ngày 27-5-1959, Quốc hội họp kỳ thứ mười. Tham dự kỳ họp có 205 đại biểu. Quốc hội thông qua kế hoạch Nhà nước năm 1959, năm bản lề của kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và thông qua một số nghị quyết, trong đó có vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp, coi đó là khâu chính trong toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta. Quốc hội cũng đã phê chuẩn việc cử Phạm Văn Bạch giữ chức Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Nguyên Khang giữ chức Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.

    Đến giữa năm 1959, sau mấy lần bổ sung và điều chỉnh, thành phần Chính phủ gồm có:

    1. Chủ tịch Hồ Chí Minh

    2. Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Phạm Văn Đồng

    3. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Phan Kế Toại

    4. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Võ Nguyên giáp

    5. Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban khoa học Nhà nước Trường Chinh

    6. Phó Thủ tướng Phạm Hùng

    7. Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn

    8. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên

    9. Bộ trưởng Bộ Nội thương Đỗ Mười

    10. Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Phan Anh

    11. Bộ Trưởng Bộ Thuỷ lợi Trần Đăng Khoa

    12. Bộ trưởng Bộ Kiến trúc Bùi Quang Tạo

    13. Bộ trưởng Bộ Tài chính Hoàng Anh

    14. Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Lê Thanh Nghị

    15. Bộ trưởng Bộ Nông lâm Nghiêm Xuân Yêm

    16. Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch

    17. Bộ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Tạo

    18. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hoè

    19. Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám

    20. Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện kiêm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Nguyễn Văn Trân

    21. Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Nguyễn Duy Trinh

    22. Bộ trưởng giữ chức Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Lê Văn Hiến

    23. Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Nguyễn Khang

    Cho đến cuối năm 1959, trải qua hai năm thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá, nhân dân miền Bắc đã thu được những kết quả quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân. Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã đầu năm 1959 là một cuộc vận động chính trị rộng lớn. 94,7% số cử tri đã tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân xã, 87,5% số cử tri tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh; có những nơi 100% cử tri đã đi bỏ phiếu. 5.016 xã và 53 thị trấn ở miền Bắc đã bầu 121.430 Uỷ viên Hội đồng nhân dân xã. 26 tỉnh, thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng đã bầu 1.905 Uỷ viên Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc thành phố. Sau khi được bầu, Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân xã đã bầu Uỷ ban hành chính tỉnh, Uỷ ban hành chính huyện và Uỷ ban hành chính xã. Bộ máy nhà nước của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về căn bản đã có bốn cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã. Đó là một cơ cấu tổ chức hợp lý.

    Ở miền Nam, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào ta đang có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhất là sau khi có nghị quyết của Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1-1959 xác định đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Cùng với cuộc đấu tranh chính trị diễn ra rộng lớn khắp cả đô thị và nông thôn, các cuộc đấu tranh vũ trang diệt ác, trừ gian và một số cuộc nổi dậy của quần chúng phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở những mức độ thích hợp khác nhau đã nổ ra tại nhiều địa phương ở miền Tây các tỉnh đồng bằng khu V và ở vùng nông thôn Nam bộ. Cuối tháng 8-1959, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở miền tây Quảng Ngãi, mở đầu ở huyện Trà Bồng. Phong trào khởi nghĩa từng phần đã lần lượt diễn ra ngày càng mạnh mẽ và rộng lớn ở Nam bộ, miền Tây các tỉnh đồng bằng khu V và Tây Nguyên.

    Tháng 12-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 17 để nghiên cứu và thảo luận về Dự thảo Hiến Pháp sửa đổi, chuẩn bị cho kỳ họp sắp tới của Quốc hội.

    Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội đã diễn ra từ ngày 18 đến ngày 31-12-1959 trong bước chuyển biến mạnh mẽ của cách mạng cả hai miền Nam và Bắc. Tham gia kỳ họp có 217 đại biểu. Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-1959), Quốc hội đã long trọng tuyên dương công trạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng: "Quốc hội... tuyên dương Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những cống hiến lớn lao đối với Tổ quốc, đã luôn luôn anh dũng tuyệt vời, hy sinh cao cả, chịu đựng gian khổ, kỷ luật nghiêm minh, đoàn kết keo sơn, lao động dũng cảm, biểu thị một truyền thống cách mạng tốt đẹp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trung thành tuyệt đối vô hạn với sự nghiệp cách mạng. Quân đội nhân dân ta rất xứng đáng với Tổ quốc, với nhân dân, xứng đáng là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng".

    Lời tuyên dương của Quốc hội đã khẳng định bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, động viên toàn quân hăng hái tiến lên mạnh mẽ để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam.

    Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội đã dành phần lớn thời gian để thảo luận và thông qua Luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật hôn nhân gia đình, đặc biệt là thảo luận và thông qua Hiến pháp mới.

    Luật bầu cử đại biểu Quốc hội gồm 9 chương và 60 điều quy định về nguyên tắc tổ chức và quá trình bầu cử Quốc hội. Luật ghi rõ: trừ những người phạm pháp và mất trí, tất cả "công dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử Quốc hội, và từ 21 tuổi trở trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội" (Điều 2). "Công dân đang ở trong Quân đội có quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Quốc hội" (Điều 3). Bầu cử đại biểu Quốc hội theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 1). "ở mỗi đơn vị bầu cử, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân có thể riêng biệt hoặc liên hiệp với nhau mà giới thiệu người ra ứng cử. Cá nhân có quyền tự ra ứng cử" (Điều 24). Căn cứ vào tính chất của Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước dân chủ nhân dân và để bảo đảm thành phần Quốc hội gồm đầy đủ các giai cấp cách mạng, các dân tộc, các đặc điểm địa phương trong nước, bảo đảm quan hệ mật thiết giữa đại biểu với nhân dân, Luật quy định cứ năm vạn dân được cử một đại biểu. Riêng các thành phố lớn, các trung tâm công nghiệp có thể từ một vạn đến ba vạn dân được cử một đại biểu. ở miền Bắc, dân tộc thiểu số có số dân trên hai triệu, chiếm khoảng 1/7 dân số miền Bắc. Vì vậy, Luật dành khoảng 1/7 số đại biểu Quốc hội cho các dân tộc thiểu số. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội này là nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện Hiến pháp mới, bầu cử Quốc hội khoá II.

    Luật hôn nhân gia đình có 6 chương gồm 35 điều quy định nguyên tắc chung, về kết hôn, về nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng, về quan hệ gữa cha mẹ và con cái, về ly hôn, v.v.. Luật khẳng định: "Nhà nước đảm bảo việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ, một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, yêu thương nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ" (Điều 1), "xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái" (Điều 2), "cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ (Điều 3).

    Luật hôn nhân gia đình được thông qua dựa trên bốn nguyên tắc căn bản là: Hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và con cái. Đó là chỗ dựa và vũ khí đấu tranh của nhân dân, nhất là chị em phụ nữ, để cải tạo gia đình cũ, xây dựng, củng cố và phát triền những quan hệ gia đình mới tiến bộ dựa trên cơ sở hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa.

    Về Hiến pháp sửa đổi, sau khi hoàn thành bản dự thảo, từ ngày 1-7 đến ngày 30-9-1958 đã đưa ra trưng cầu ý kiến các đại biểu Quốc hội, các cán bộ trung cao cấp, các chính đảng, đoàn thể, các cơ quan chính quyền. Đã có khoảng 500 người tham gia góp 1700 ý kiến. Ban sửa đổi đã nghiên cứu các ý kiến đó, chỉnh lý làm bản dự thảo lần thứ hai và ngày 1-4-1959 đã đưa ra công bố để toàn dân thảo thuận. Trong suốt bốn tháng liền, hàng triệu người đã tham gia thảo luận và phát biểu ý kiến. Việc nghiên cứu và thảo luận dự thảo Hiến pháp đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi, có đủ các tầng lớp nhân dân tham gia. Trên báo trí, việc thảo luận cũng rất sôi nổi, phong phú. Sau khi tiến hành xong cuộc trưng cầu ý dân rộng rãi, Ban sửa đổi Hiến pháp chỉnh lý một lần nữa, hoàn chỉnh bản dự thảo để trình Quốc hội. Kể từ ngày thành lập, Ban sửa đổi Hiến pháp đã làm việc liên tục và họp 27 lần.

    Tại kỳ họp thứ 11 của Quốc hội, ngày 18-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng ban sửa đổi Hiến pháp đã thuyết trình trước Quốc hội bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau đó, Quốc hội đã thảo luận trong nhiều ngày rất sôi nổi. Ban sửa đổi tập trung các ý kiến đó lại, thảo luận chỉnh lý một lần nữa. Ngày 31-12-1959, Quốc hội đã họp phiên toàn thể biểu quyết thông qua Hiến pháp mới với sự nhất trí tuyệt đối: 206 phiếu tán thành trên 206 đại biểu có mặt. Việc Quốc hội thông qua Hiến pháp mới là sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại. Trong lời phát biểu sau khi Quốc hội thông qua bản Hiến pháp mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Bản Hiến pháp mới của chúng ta sẽ khuyến khích hơn nữa đồng bào miền Bắc thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, khuyến khích đồng bào miền Nam đấu tranh bền bỉ hơn nữa để đòi tự do dân chủ và thống nhất nước nhà" .

    Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 1/SL công bố Hiến pháp mới.

    Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có Lời nói đầu, và 112 điều chia thành 10 chương. Chương I (từ Điều 1 đến Điều 8): Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Chương II (từ Điều 9 - 21): Chế độ kinh tế và xã hội; Chương III ( từ Điều 22-42): Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Chương IV (từ Điều 43-60): Quốc hội; Chương V (từ Điều 61-70): Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Chương VI (từ Điều 71-77): Hội đồng Chính phủ; Chương VII (từ Điều 78-96): Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính địa phương các cấp; Chương VIII (từ Điều 97-108): Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân; Chương IX (từ Điều 109-111): Quốc kỳ - Quốc huy - Thủ đô; Chương X (Điều 112): Sửa đổi Hiến pháp.

    Lời nói đầu của Hiến pháp đã ghi rõ nước Việt Nam là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau, là một dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cần cù lao động, anh dũng đấu tranh, xây dựng và giữ gìn độc lập của Tổ quốc. Hiến pháp ghi lại nhứng thành quả đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, biểu dương sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và thừa nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Hiến pháp đã nêu rõ mục đích phấn đấu của nhân dân trong giai đoạn mới. Đó là sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc bảo vệ hoà bình ở Đông Nam á và thế giới.

    Chương I, Hiến pháp khẳng định: "Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc.

    Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm.

    ... Nhà nước ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số mau tiến kịp trình độ kinh tế và văn hoá chung" (Điều 3).

    "Tất cả các quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân" (Điều 4).

    "Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liện hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.

    Tất các các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân" (Điều 6).

    Về chế độ kinh tế và xã hội, Hiến pháp khẳng định : "Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến.

    Mục tiêu cơ bản của chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân" (Điều 9).

    Các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất được xác nhận bao gồm: Sở hữu của Nhà nước tức của toàn dân, sở hữu của Hợp tác xã tức của tập thể nhân dân lao động, sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc. "Kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên" (Điều 12). Kinh tế hợp tác xã thuộc hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động được "nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sự phát triển" (Điều 13). Nhà nước chiểu theo Pháp luật bảo hộ các quyền sở hữu "về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân", "về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác", "về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc" (Điều 14, 15, 16). "Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của nhà nước. Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác" (Điều 16). Nhà nước còn bảo hộ các quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, các thứ vật dụng riêng biệt, và bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của họ (Điều 19, 20), "Nhà nước khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần tích cực trong lao động của những người lao động chân tay và lao động trí óc" (Điều 21).

    Hiến pháp đã quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Về quyền lợi, mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình, quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín, quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của cơ quan nhà nước, quyền làm việc, nghỉ ngơi, quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động, quyền học tập, thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, quyền nghiên cứu khoa học và sáng tạo. Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình, Nhà nước bảo hộ quyền lợi bà mẹ trẻ em, hôn nhân và gia đình, Nhà nước cố gắng bảo đảm và tạo các điều kiện cần thiết để các quyền trên của công dân được thực sự tôn trọng. Đồng thời cũng không cho phép lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Nhà nước còn bảo hộ các quyền lợi chính đáng của Việt kiều và cho phép những người đấu tranh vì hoà bình, tự do, tiến bộ xã hội mà bị bức hại trú ngụ. Về nghĩa vụ, công dân Việt Nam có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội, tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng, có nghĩa vụ đóng thuế. Đặc biệt, "bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý nhất của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc" (Điều 42).

    Hiến pháp đã quy định xây dựng một bộ máy nhà nước kiểu mới trên nguyên tắc tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. ở cấp Trung ương, trước hết là Quốc hội, "cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" (Điều 43), "là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp" (Điều 44), với nhiệm kỳ mỗi khoá là bốn năm. Quốc hội có những quyền hạn sau đây: làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và giám sát việc thi hành Hiến pháp, làm pháp luật, bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; theo đề nghị của Chủ tịch nước cử Thủ Tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng Quốc phòng và theo đề nghị của Thủ tướng cử Phó Thủ tướng và các thành viên của Hội đồng Chính phủ. Đồng thời Quốc hội có quyền bãi miễn các thành viên nói trên. Quốc hội quyết định kế hoạch kinh tế nhà nước, xét duyệt và phê chuẩn dự luật và quyết toán ngân sách nhà nước, ấn định các thứ thuế, phê chuẩn thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ, phê chuẩn địa giới các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương, quyết định đại xá, quyết định các vấn đề chiến tranh và hoà bình. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Quốc hội có quyền bãi miễn các thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hiến pháp quy định rõ các quyền hạn cụ thể của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội như quyền tổ chức tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội, triệu tập Quốc hội, giải thích pháp luật, ra pháp lệnh, quyết định trưng cầu dân ý và một số quyền hạn khác, kể cả một số quyền hạn đặc biệt trong thời gian Quốc hội không họp như tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp đất nước bị xâm lược. Hiến pháp cũng quy định quyền hạn của các đại biểu Quốc hội. "Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là người thay mặt cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về mặt đối nội và đối ngoại" (Điều 61). Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ 35 tuổi trở lên có quyền ứng cử Chủ tịch nước. Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và được trao những quyền hạn cụ thể căn cứ vào quyết định của Quốc hội và của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. "Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội" (Điều 71). Hội đồng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật và pháp lệnh mà quy định những biện pháp hành chính, ban bố những Nghị định, Nghị quyết, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những Nghị định, Nghị quyết và Chỉ thị ấy. Trong khi thi hành chức vụ, các thành viên của Hội đồng Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi trái với Hiến pháp và pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước hay là cho nhân dân. ở cấp địa phương gồm có ba cấp: tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, thành phố, thị xã; xã, thị trấn. Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương. Uỷ ban hành chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân nhân dân địa phương, là cơ quan hành chính của nhà nước ở địa phương do Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp bầu ra. Hiến pháp quy định cụ thể quyền hạn, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp, nhằm bảo đảm sự tập trung thống nhất từ Trung ương tới địa phương và phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Hiến pháp cũng quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. "Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 100). Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương và Viện Kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định. Viện Kiểm sát nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên và lãnh đạo thống nhất của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và trong trường hợp Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân địa phương.

    Tóm lại, như Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 khẳng định: "Hiến pháp mới quy định chế độ chính trị, kinh tế và xã hội của nước ta, quan hệ bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc trong nước, bảo đảm đưa miền Bắc nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm cơ sở cho cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.

    Hiến pháp mới quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, nhằm phát huy sức sáng tạo to lớn của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng nước nhà, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc.

    Hiến pháp mới là một Hiến pháp thực sự dân chủ. Hiến pháp mới là sức mạnh động viên nhân dân cả nước ta phấn khởi tiến lên giành những thắng lợi mới".

    Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội còn quyết định một số vấn đề quan trọng chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội khoá II, trong đó có vấn đề các đại biểu Quốc hội đại diện cho nhân dân miền Nam.

    Quốc hội nước ta tiêu biểu cho ý chí quật cường, bất khuất của dân tộc, ý chí độc lập, thống nhất và dân chủ của nhân dân. Quốc hội là đại biểu chân chính cho đồng bào cả nước. Do hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ, chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ và tay sai, cuộc Tổng tuyển cử mà toàn dân mong đợi để thống nhất nước nhà theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ chưa thực hiện được. Chính quyền Ngô Đình Diệm theo lệnh Mỹ khăng khăng từ chối mọi đề nghị hợp tình hợp lý của Chính phủ ta nhằm thống nhất nước nhà bằng biện pháp hoà bình. Trong khi vẫn kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp hoà bình thống nhất đất nước, và chờ đợi cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới. Luật bầu cử Quốc hội. Quốc hội được bầu lại là Quốc hội tiêu biểu cho cả nước, vì Quốc hội của ta là Quốc hội của một nước thống nhất. Vậy nhân dân miền Nam phải có đại biểu xứng đáng của mình trong Quốc hội. Trải qua 8, 9 năm kháng chiến vô cùng gian khổ và anh dũng, các đại biểu miền Nam trong Quốc hội đã gắn bó với nhân dân, đoàn kết phấn đấu ở tiền tuyến cũng như hậu phương, nhiều đại biểu đã anh dũng hy sinh. Từ ngày hoà bình lập lại, các đại biểu miền Nam trong Quốc hội tập kết ra Bắc đã được đồng bào miền Nam ruột thịt trao cho vinh dự làm nhiệm vụ tiếp tục truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam, đem hết nhiệt tình xây dựng miền Bắc, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Các đại biểu đó vẫn thường xuyên theo dõi tình hình miền Nam ruột thịt, cổ vũ đồng bào miền Nam nói chung và địa phương mình nói riêng, mặt khác vẫn liên hệ mật thiết với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc. Các đại biểu vẫn tiếp tục làm trọn nhiệm vụ đại biểu Quốc hội của mình trong điều kiện mới. Vì vây, để đạt được tính chất tiêu biểu của Quốc hội cho cả nước, trong hoàn cảnh đất nước còn bị chia cắt, cuộc Tổng tuyển cử chưa thể tiến hành được ở miền Nam, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kỳ họp thứ 11 đã nhất trí thông qua "Nghị quyết kéo dài nhiệm kỳ của các đại biểu Quốc hội đã được nhân dân miền Nam bầu ra ngày 6-1-1946 cho đến khi có nghị quyết mới". Bản nghị quyết nêu rõ: "Nước Việt nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiêu biểu cho tính chất thống nhất của cả nước ta và tiêu biểu ý chí đấu tranh thống nhất của nhân dân ta từ Bắc chí Nam. Trong Quốc hội phải có những người đại diện xứng đáng cho nhân dân miền Nam". Trước quyết định trên của Quốc hội, thay mặt cho các đại biểu miền Nam trong Quốc hội, Tôn Đức Thắng đã bày tỏ: "Điều này làm cho nhân dân miền Nam cũng như chúng tôi, đại biểu của miền Nam, cảm thấy sung sướng và cảm động, vì đồng bào miền Nam chúng tôi, mặc dù thế, cũng được có đại diện của mình ở Quốc hội mới, được tham gia về ý kiến, về việc làm trong sự củng cố và xây dựng miền Bắc, cơ sở cho đồng bào miền Nam đấu tranh giải phóng bản thân mình.

    Điều đó là một vinh dự và một quyền lợi của nhân dân miền Nam chúng tôi, do Nghị quyết của Quốc hội kỳ họp thứ 11 này, nghị quyết ấy thể hiện mối tình ruột thịt, lòng thiết tha với thống nhất đất nước của các quý vị đại biểu.

    Thay mặt nhân dân miền Nam và các bạn đại biểu miền Nam, chúng tôi xin phép tỏ lòng biết ơn các quý vị đại biểu, và xin hứa chúng tôi sẽ cố gắng làm nhiệm vụ để khỏi phụ lòng tin cậy của các vị, khỏi phụ lòng tin cậy của đồng bào miền Nam và đồng bào toàn quốc".

    Kỳ họp thứ 11 kết thúc cũng là ngày cuối của năm 1959, mở đầu năm 1960. Trong lời phát biểu sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Ngày mai là năm mới, nhân dân có bản Hiến pháp mới, đó là một kỷ nguyên mới, đẩy mạnh tiến bộ mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà".

    Mở đầu năm 1960, nhân dân miền Nam đã mở rộng cuộc khởi nghĩa từng phần, giành quyền làm chủ trên nhiều vùng rộng lớn ở nông thôn và miền núi. Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam chuyển sang thế tiến công mạnh mẽ, liên tục. Nhân dân miền Bắc đang sôi nổi thi đua thực hiện kế hoạch kinh tế năm 1960 và chuẩn bị tiến tới ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá II. Trong không khí đó, kỳ họp thứ 12 của Quốc hội từ ngày 11 đến ngày 15-4-1960 với sự tham gia của 211 đại biểu. Quốc hội đã thông qua kế hoạch nhà nước năm 1960, thông qua Luật nghĩa vụ quân sự.

    Luật nghĩa vụ quân sự gồm có 8 chương và 42 điều, quy định về các nguyên tắc chung, về chế độ phục vụ của quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị, về đăng ký nghĩa vụ quân sự, thống kê và quản lý quân dự bị, về tuyển binh, về huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị, về động viên thời chiến, về quyền lợi và nghĩa vụ của quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị. Luật khẳng định: "Nghĩa vụ quân sự là nhiệm vụ vẻ vang của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đối với Tổ quốc" (Điều 1). Trừ những người bị tước quyền công dân hoặc đang bị giam giữ còn "Những công dân nam giới từ 18 đến 45 tuổi, không phân biệt dân tộc nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội và trình độ văn hoá, đều có nghĩa vụ quân sự" (Điều 1). Phụ nữ có quyền làm nghĩa vụ quân sự phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế riêng của giới mình. Vì vậy "Phụ nữ từ 18 đến 45 tuổi có kỹ thuật chuyên môn cần cho quân đội cũng đăng ký nghĩa vụ quân sự" (Điều 17). Nghĩa vụ quân sự chia làm hai ngạch: ngạch tại ngũ và dự bị. Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình từ 18 đến 25 tuổi, thời chiến sẽ do Hội đồng Quốc phòng quy định. Luật nghĩa vụ quân sự đánh dấu một bước mới trên con đường xây dựng quân đội theo hướng chính quy hiện đại. Suốt trong thời kỳ kháng chiến và từ ngày hoà bình lập lại, nhà nước ta xây dựng Quân đội nhân dân chủ yếu trên tinh thần tự nguyện tự giác. Với tinh thần tự nguyện tự giác, những người con ưu tú đó của đất nước đã không tiếc bất kỳ sự hy sinh nào để diệt giặc cứu nước đưa kháng chiến đến thắng lợi, đem lại hoà bình cho Tổ quốc. Ngày nay trong tình hình mới, vừa xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, đòi hỏi không những phải có một đội quân thường trực, xây dựng trên cơ sở chính quy hiện đại, mà còn phải có một lực lượng dự bị hùng hậu. Chúng ta tha thiết yêu chuộng và kiên quyết giữ vững hoà bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn đề cao cảnh giác, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân, chế độ nghĩa vụ quân sự vừa bảo đảm cho việc giảm quân số thường trực, tiết kiệm các khoản chi tiêu về quân sự trong thời bình để tập trung vào xây dựng kinh tế và văn hóa, đồng thời vẫn thoả mãn được yêu cầu quốc phòng. Chế độ tình nguyện tòng quân trước đây không xây dựng được quân dự bị có tổ chức và được huấn luyện chặt chẽ, nên không thể giảm bớt được quân số thường trực. Chế độ nghĩa vụ quân sự bảo đảm cho mọi tầng lớp công dân Việt Nam được vinh dự thay nhau gánh trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc một cách công bằng, hợp lý, thích hợp với nguyện vọng của quảng đại nhân dân. Đồng thời nó còn tạo điều kiện để phổ cập tri thức quân sự một cách rộng rãi trong nhân dân, vừa sản xuất vừa sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Thanh niên luân phiên nhau làm nghĩa vụ quân sự sẽ có điều kiện để nâng cao trình độ về mọi mặt, được rèn luyện về thể lực, tổ chức và kỷ luật. Khi hết hạn tại ngũ trở về họ sẽ là lực lượng mạnh mẽ trong đội ngũ quân dự bị và lực lượng tích cực trong lao động sản xuất. "Luật này - như Hồ Chí Minh nói - rất cần thiết cho công việc củng cố quốc phòng, giữ gìn hoà bình, đồng thời nó làm thoả mãn nguyện vọng của đồng bào được góp phần vẻ vang bảo vệ Tổ quốc".

    Kỳ họp thứ 12 của Quốc hội kết thúc cũng là kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá I.

    Ngày 8-5-1960, nhân dân miền Bắc đã bầu Quốc hội mới - Quốc hội khoá II của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Kế thừa và phát huy tinh thần truyền thống của Quốc hội khoá I, Quốc hội khoá II chắc chắn sẽ đem tất cả tinh thần và sức lực để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng miền Bắc, ủng hộ và chi viện cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam vì một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

    Kể từ ngày 6-1-1946 - ngày Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến ngày 15-4-1960, ngày bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá I, Quốc hội đã trải qua hơn 14 năm hoạt động đầy thử thách, cam go và giành được những thắng lợi to lớn.

    Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong gần chín thập kỷ, đặc biệt là 15 năm đấu tranh trực tiếp dưới ngọn cờ Độc lập Tự do của Đảng Cộng sản, đứng đầu là Hồ Chủ tịch. Cách mạng tháng Tám thành công. Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Toàn dân Việt Nam không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, nam nữ, từ 18 tuổi trở lên đã sử dụng quyền công dân của một nước độc lập tự do, lựa chọn trực tiếp và bỏ phiếu kín để bầu ra Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đó là một Quốc hội của dân, do dân và vì dân. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là "Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Châu á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do".

    Đại biểu Quốc hội khoá I do nhân dân bầu ra là những người đại diện cho nhân dân ở ba miền đất nước: Bắc bộ (152 đại biểu), Trung bộ (108 đại biểu), Nam bộ (73 đại biểu), đại diện cho các đảng cách mạng và dân chủ, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc thiểu số, các tôn giáo và nhân sĩ trí thức yêu nước. Do hoàn cảnh đặc biệt có tính ngoại lệ, Quốc hội đã mở rộng thêm 70 đại biểu cho Việt Quốc và Việt Cách không qua bầu cử. Đây là đại biểu của hai đảng chính trị đối lập, chống đối cách mạng, chống đối Việt Minh, chống Chính phủ rất quyết liệt. Song Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc và thống nhất quốc gia, dựa chắc vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết các lực lượng yêu nước và cách mạng trong Quốc hội, đồng thời có sách lược khôn khéo, mềm dẻo, nhân nhượng, thoả hiệp, hoà giải có nguyên tắc, từng bước làm thất bại các âm mưu phá hoại của họ và buộc họ từ đối lập phải "đồng tình" và hợp tác để bảo vệ quyền độc lập rự do. Sau khi Quân đội Tưởng rút khỏi miền Bắc, các phần từ cầm đầu phản động đã lần lượt bỏ trốn. Thực tiễn cách mạng và kháng chiến quyết liệt về sau tiếp tục sàng lọc đã làm cho Quốc hội trở nên thuần nhất. Vì thế, Quốc hội khoá I là một Quốc hội dân tộc thống nhất của cả nước, của sự đoàn kết chân thành giữa các đảng phái yêu nước cách mạng (Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội), các đoàn thể nhân dân, các dân tộc thiểu số, các tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức yêu nước dưới ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

    Sau khi ra đời, Quốc hội đã thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam để thực hiện kháng chiến và kiến quốc, giữ vững chính quyền cách mạng trong thời kỳ trứng nước. Trong những năm kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ (1946-1954), Quốc hội luôn luôn bên cạnh Chính phủ, đi sát nhân dân, động viên toàn dân, toàn quân tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện và lâu dài, vừa chiến đấu, vừa phát triển lực lượng, đem sức ta mà giải phóng cho ta, đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ - mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa trong thế kỷ XX, một cột mốc vàng chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước, một chiến công hiển hách của thời đại Hồ Chí Minh và đi vào lịch sử thế giới như một sự kiện vĩ đại báo hiệu thắng lợi của nhân dân các dân tộc bị áp bức đang chiến đấu vì độc lập tự do, vì tiến bộ xã hội, vì nhân phẩm của con người.

    Quốc hội đã cùng Chính phủ củng cố chế độ dân chủ cộng hoà, thực hiện những cải cách dân chủ, từng bước đem lại ruộng đất cho nông dân, tiến lên cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng. Hoàn thành cách mạng ruộng đất là một thắng lợi chiến lược của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Bắc Việt Nam.

    Từ năm 1954 đến năm 1960, Quốc hội đã quyết tâm thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ, đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải lập quan hệ bình thường giữa hai miền Bắc và Nam, cùng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Quốc hội đã thông qua các kế hoạch khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân, củng cố và tăng cường Nhà nước, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền Bắc tiến dần từng bước theo con đường xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước; chi viện, tạo thế, tạo lực cho cách mạng miền Nam tiến lên đánh bại chiến tranh đơn phương của Mỹ và tay sai.

    Thắng lợi của 14 năm hoạt động chứng tỏ rằng: Quốc hội đã hết lòng vì dân, vì nước, một Quốc hội thống nhất, Quốc hội kháng chiến và kiến quốc, Quốc hội dân tộc, dân chủ theo con đường xã hội chủ nghĩa.

    Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I là Quốc hội lập hiến. Song do hoàn cảnh đặc biệt của nước ta năm 1946 nên Hiến pháp chưa được ban hành. Quốc hội vẫn tiếp tục hoạt động suốt 8 năm kháng chiến và những năm đầu sau khi hoà bình được lập lại (1954). Thực tiễn cách mạng và kháng chiến đã giao trọng trách cho Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ đã ghi trong các điều 22, 23, 24 của Hiến pháp năm 1946. Quốc hội trở thành cơ quan cao nhất đại diện quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết mọi vấn đề chung của đất nước, xây dựng Hiến pháp và pháp luật, biểu quyết ngân sách, quyết định tuyên chiến và đình chiến, chuẩn y các hiệp ước do Chính phủ ký với nước ngoài. Ngay sau khi mới thành lập, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng với Hội đồng Chính phủ quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3 với Pháp; đã phát động cuộc kháng chiến trong toàn quốc tháng 12-1946... Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Ban Thường trực Quốc hội thường xuyên bên cạnh Chính phủ để bàn bạc, góp ý kiến và giám sát Hội đồng Chính phủ về việc ban hành và thực thi các chính sách kháng chiến. Đặc biệt từ 1954 đến 1960, trong điều kiện miền Bắc đi vào hoà bình xây dựng đất nước, Quốc hội đã sinh hoạt định kỳ đều đặn để quyết định các vấn đề lớn về quốc kế dân sinh, về chính trị, quân sự, về ngân sách, v.v...

    Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc xây dựng Hiến pháp và các đạo luật. Hơn 14 năm hoạt động, trong đó thời gian chiến tranh ác liệt đã chiếm gần 9 năm, song Quốc hội đã hai lần xây dựng Hiến pháp (Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959), thông qua nhiều đạo luật lớn (Luật cải cách ruộng đất, Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân, Luật về quyền tự do hội họp, Luật về quyền tự do lập hội, Luật về chế độ báo chí, Luật công đoàn, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bầu cử Quốc hội, v.v...). Các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp và luật pháp quy định khá cụ thể. Nội dung cơ bản của các quyền dân tộc và dân chủ đó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn, đang được kế thừa và phát triển trong điều kiện mới của đất nước ngày nay. Thực tiễn đó chứng tỏ rằng Quốc hội - cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thực thi việc lập hiến và lập pháp nhằm điều hành đất nước bằng luật pháp.

    Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận dân tộc thống nhất, các đoàn thể quần chúng, các đảng phái cách mạng và dân chủ - Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội - là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị thống nhất và tập trung của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hệ thống chính trị đó là sản phẩm khách quan của những điều kiện lịch sử, chính trị của quá trình sàng lọc trong cuộc đấu tranh dân tộc quyết liệt của nhân dân ta tạo nên. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị đó đã loại trừ được phân ly, chia rẽ và đối lập giai cấp, đảng phái, tạo nên một khối đoàn kết thống nhất vững chắc, một sức mạnh cách mạng tập trung, sức mạnh dân tộc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược lớn mạnh, đưa cuộc cách mạng và kháng chiến của dân tộc đến thắng lợi vẻ vang.

    Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I là một bộ phận trong hệ thống chính trị thống nhất của nước ta, là một Quốc hội dân tộc thống nhất do Đảng cộng sản lãnh đạo, phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc nên đã làm tròn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu nhân dân, vì dân, vì nước.

    Xây dựng được một Quốc hội dân tộc thống nhất làm tròn được nhiệm vụ của mình một cách vẻ vang chính vì Quốc hội gồm những đại biểu ưu tú của nhân dân, của dân tộc, yêu nước, yêu dân, trung thành với sự nghiệp cách mạng, tận tuỵ với công việc, không sờn lòng trước khó khăn gian khổ, bất khuất trước kẻ thù, luôn luôn gắn bó với nhân dân, với Chính phủ và Đảng, Quốc hội luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Quốc hội đã thừa nhận sự lãnh đạo về chính trị của Đảng Cộng sản, một đảng cách mạng và trí tuệ, có một đường lối chính trị và tổ chức đúng, phù hợp với yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến kiến quốc. Chính vì vậy, Quốc hội đã được nhân dân tin tưởng, bảo vệ và chấp hành mọi nghị quyết của Quốc hội.

    Đặc biệt chúng ta có một vị lãnh tụ vô cùng kính yêu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là linh hồn của cách mạng và kháng chiến kiến quốc, là hạt nhân đoàn kết dân tộc, đoàn kết Quốc hội, là người vạch đường lối cho Quốc hội vượt qua những giây phút hiểm nghèo của lịch sử, hướng Quốc hội vào những quyết sách lớn, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vẻ vang.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là linh hồn của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    Ngọn cờ Độc lập Tự do là mục tiêu đấu tranh, là động lực, là sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quốc hội, của nhân dân Việt Nam.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang tiếp tục khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường đoàn kết dân tộc, thống nhất quốc gia, xây dựng một hệ thống chính trị thống nhất, một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đổi mới và phát triển, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh mang bản sắc Việt Nam.
     

Share This Page