Sử Thi Thần Thoại Mường (NXB Văn Hóa Thông Tin 2014) - Trương Sĩ Hùng, 353 Trang

Discussion in 'Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam' started by admin, Dec 13, 2014.

  1. admin

    admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên

    [​IMG]
    Cuốn sách không phải là văn bản “Sử thi thần thoại Mường” mà là một chuyên luận về thiên cổ văn ấy của Trương Sĩ Hùng. Sau hơn 10 năm nghiên cứu, cả chắt lọc, kế thừa từ các cuốn sách, chương sách cổ kim và hàng loạt những bào tạp chí liên quan; cả đi khảo sát điền dã trên một diện rộng ở Mường, ở Việt; và cả trao đổi với các đàn anh, các đồng nghiệp…, tác giả đã khâu nối lại những mắt xích của lịch sử qua cái nhìn văn hóa học ở hệ thống nghi thức lễ tang Mường. Bằng cách ấy, nêu lên một số luận điểm đáng lưu ý.

    Chúng ta đều biết rằng CÁI CHẾT- dù là chết già, chết bệnh hay chết “bất đắc kỳ tử”, vốn không kiêng nể một ai. Chính vì vậy mà TANG LỄ đã sớm trở thành một sinh hoạt văn hóa tổng hợ quan trọng nhất- bên cạnh lễ thành hôn trong chu kỳ đời người ở các dân tộc. Thế nhưng từ trước tới nay, trong giới dân tộc học ở nước ta, việc sưu tầm, nghiên cứu các lễ cúng bái và sinh hoạt tín ngưỡng tỏng nghi thức đám ma ở nhiều dân tộc còn chưa mấy được quan tâm. Lần này, Trương Sĩ Hùng đã khai thác từ nhiều phía ở “Để đất, đẻ nước” ngoài một số đánh giá có sức thuyết phục là các nguồn tài liệu thành văn và tư liệu điền dã dân tộc học ở tộc người Mường.

    Phần nghiên cứu chiến nửa bề dầy cuốn sách, được phân bố thành 4 chương và vài trang kết. Nửa số trang còn lại là chú thích, một thư mục nghiên cứu khá đủ về lịch sử văn hóa Mường. Tiếp đấy là những phụ lục quan tọng. Đó là tư liệu mộc, gồm một số thần thoại Mường- chất liệu chính của sử thi; và trích đoạn sử thi thần thoại Mường. Ở những trích đoạn này vừa có một số bài mo tuông, lại có một số bài mo vái. Rất tiếc là vắng mặt một số trích đoạn trong loại mo tlêu- một trong ba dạng thức của mo mường Đẻ đất đẻ nước như tác giả đã nêu.

    Trở lại phần chuyên luận, chương I : “Sử thi thần thoại Mường qua cái nhìn học giả”. Đó là cách đặt tên để tiếp cận các nguồn tại liệu, đề cập đến lịch sử nghiên cứu vấn đề. Tác giả đã dẫn ra một hệ thống thư tịch Hán Nôm có liên quan đến việc nghiên cứu Mường, gồm cả sách cổ sử, ký lục của Trung hoa và các tác phẩm văn học sử của người Việt. Tiếp đến là sự nghiên cứu dưới thời thuộc Pháp. Và sau chót là quá trình sưu tầm, biên dịch, giới thiệu những mảng sử thi thần thoại Mường cùng những thành tựu nghiên cứu nó từ thập niên đầu của nửa sau thế kỷ đang qua. Chính thành tựu nghiên cứu này cùng với kết quả khảo sát điền dã của mình đã dẫn đến nhận xét ở cuối chương “Đẻ đất đẻ nước được đề cập ở đây là một đơn vị tác phẩm bao gồm cấu tríc toàn bộ cả ba loại: mo tuông, mo vái và mo tlêu”.

    Chương II: “Nội dung thần thoại và giá trị nội dung nghệ thuật của sử thi thần thoại Mường”. Ở chương này, tác giả đã xác định: “Trước hết, thần thoại vốn là một loại hình tự sự dân gian, lần đầu tiên xuất hiện trong văn học để đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa của con người. Thần thoại Mường phản ánh nhận thức ở thời Nguyên thủy về thế giới tự nhiên, về “những cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên” mà thức chất là quá trình thích ứng tự nhiên. Mặt khác, nó phản ánh những nét chính, những trạng huống thường có trong “cuộc hành trình” của con người cổ đại. Tiếp đấy, tác giả phân tích, lý giải, chứng minh sự liên kết với nhau về lượng và về chất giữa các thần thoại Mường để hình thành thiên sử thi thần thoại “Đẻ đất, đẻ nước”. Và đến lượt nó- sử thi Mường phản ánh “cuộc hành trình mới” của con người đa dạng hơn, phong phú hơn ở thời kỳ phát triển cao hơn. Nó là đứa con đầu lòng của loại hình sử thi dân gian.

    Chương III: “Tìm hiểu quá trình diễn xướng của thần thoại và sử thi Mường”. Nếu người ta có những hình vẽ đầy đủ về một cái áo để nghiên cứu y phục; thậm chí có một cái áo thực sự để nghiên cứu nó, sao bằng nghiên cứu trong toàn bộ sinh hoạt của con người khi mang bộ ý phục đó. Cũng bằng cách nhìn như thế, tác giả phi look ở chương này, có đoạn viết: “Giới nghiên cứu văn học dân gian có thể có rất nhiều văn bản, dị bản, song muốn nhìn thấy chúng như “cá bơi trong nước”, như “chim bay trên trời” thì không thể tách rời diễn xướng. Diễn xướng của mo Mường Đẻ đất đẻ nước chính là lời ca của bố mo (thầy cúng) được cất lên song trùng với từng hành vi của nghi lễ tang ma. Tư liệu dân tộc học về phong tục tổ chức lễ tang Mường được tập tủng chủ yếu ở chương này. Tác giả đã lướt nhanh từ các jinhf thức diễn xướng dân gian của thần thoại đến từng cử chỉ của diễn xướng sử thi thần thoại thông qua những động tác- lời ca của các bố mo- nhân vật trung tâm của sinh hoạt tín ngưỡng trong lễ tang.

    Cũng ở chương này, 3 loại mo trong Đẻ đất đẻ nước được phân biệt gắn liền với trình tự của một lễ tang, Mo tuông- mở đầu cho thiên sử thi thần thoại được đọc lên khi ván thiên quan tài đã đậy, cỗ cúng đã bầy trên bàn thờ. Tác giả coi lễ thức ở phần mo này là sự tái tạo trong Đẻ đất, đẻ nước hình ảnh đậm đà của tín ngưỡng thờ giống nòi của người Nguyên thủy. Mo vái- bao gồm những ca khúc miêu tả cảnh huyền ảo ở hai thế giới hoang tưởng: mường Ma, mường Trời. Mo Tlêu- được đọc ở những này cuối cùng trước khi đưa quan tài ra nghĩa địa. Toàn bộ quá trình sinh thành vũ trụ, sự ra đời của vạn vật và nguồn gốc loài người được ông mo Mường trần thuật lại qua lời cúng mà giới nghiên cứu gọi là “sử thi Đẻ đất, đẻ nước”.

    Trong các lễ thức khác, nhỏ hơn như lễ mừng thượng thọ, lễ thành hôn, lễ đầy tháng cho trẻ sơ sinh, một số đoạn mo thích họp cũng được thầy mo trích đọc. Hình thức mo này ở lễ thượng tho được gọi là mo sống.

    Chương IV- “Đẻ đất đẻ nước là sử thi thần thoại”. Tên của chương sách ở đây không phải là lời mở đầu, mà chính là nội dung khẳng định của tác giả ở phần này; cũng là lời kết của hầu như toàn bộ chuyên luận về mo Mường. Các mô típ của thần thoại, của sử thi thuộc nhiều nền văn hóa; các luận điểm khác nhau, giống nhau hay gần nhau về sự đánh giá, phần loại loại hình đã được nêu ra và so sánh quá lượng cần thiết để chứng minh: Đẻ đất, đẻ nước có đầy đủ đặc điểm của Loại hình sử thi; và có những tiêu chí nhất định để xếp nó vào thể laoij sử thi thần thoại. Ở đấy cuốn sách đã kế thừa được những kết quả nghiên cứu trước đó. Tác giả đã xóa đi cái “gạch nối” thận trọng của Nhiculin.

    Nếu như thần thoại là sản phẩm của xã hội nguyên thủy, nó phản ánh tư duy ngây thơ ở buổi bình minh của lịch sử văn học; thì sử thi dân gian xuất hiện trng thời kỳ từ tan rã của xã hội nguyên thủy đến sơ kỳ của xã hội manh nha có giai cấp. Sử thi thần thoại là thể loại ra đời sớm nhất của loại hình sử thi dân gian. Tuy nhiên, việc minh định này vẫn còn là một đề tài thôi thúc, phải được tiếp tục nghiên cứu, trao đổi từ nhiều cách tiếp cận.

    Cuốn sách thể hiện cách diễn đạt khá trong sáng, lời văn ít cầu kỳ, có sức thu hút người đọc dõi theo những mối liên hệ, những nẻo tư duy nhiều khi khá phức tạp của người viết. Bằng đối tượng nghiên cứu cụ thể, ở đây một lần nữa tác giả lại chứng tỏ khả năng nghiên cứu của phương pháp liên ngành: văn học dân gian và dân tộc học, có thể đưa lại kết quả nhiều khi viên mãn. Đặc biệt là việc nghiên cứu một văn bản truyền miệng- những lời cúng của thầy mo Mường trong môi trường nghi lễ tang ma là hướng khảo sát truyền thống trong dân tộc học có thể đưa lại kết quả tối ưu (như ở chương III).

    Đến chương IV thì cứu cánh của tác giả coi như đã thành tựu, và hoàn toàn có thể kết thúc ở đây. Song dường như để cho chắc chắn hơn- mà có lẽ cũng muốn giúp cho người đọc một tóm lược về chính kiến của mình, tác giả đã viết thêm “vài lời kết luận”. Người đọc có cảm nhận không quá là hơi thất vọng- nếu tiếp đấy lại trống vắng đôi phần phục lục. Chỉ vài trang kết luận thôi, và thêm chăng thì đôi chỗ ở những chương trên, cái nhìn theo một lối mòn thi thoảng thấy xuất hiện đã làm suy giảm chất lượng của công trình mà nhà nghiên cứu đã có được. hình như tác giả muốn đi tìm một bóng dâm tránh nắng xiên khoai cho những luận cứ của mình. Tác giả viết: “Tục lễ ma chay, cưới xin của ma Mường thuở ấy òn bảo thủ lạc hậu, nhiều lễ tang ma kéo dài sự ăn uống lãng phí gây nhiều thiệt hại lớn, gây khó khăn cho họ trong đời sống” (tr.27). Thế nhưng khi miêu thuật về cái chết và lễ tang Mường (ở các tr 84, 85…), tác giả lại viết: “Người Mường đã từng đúc kết: “Tang họ 3 tháng, tang làng 3 ngày, để tang cho ăn mày một buổi” (Tục ngữ Mường)”. Tố chất nhân văn ở câu tục ngữ này rõ ràng là trái ngược với thói tục: “Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa”- (Truyện Kiều- câu 78). Tác giả viết tiếp: “Quan niệm nhân sinh của người Mường rất bao dung đại lượng,..”. Cái mâu thuẫn ấy bộc lộ sự thiếu nhất quán trong phương pháp luận của nhà nghiến cứu. Tác giả cũng biết rằng chính cái môi trường “bảo thủ lạc hậu” ấy trong lễ tang Mường đã là kho chứa để lưu giữa đến hôm nay và cho mai hậu thiên sử thi thần thoại Đẻ đất, đẻ nước này. Vì lợi ích của con người tỏng bữa ăn thường nhật, có nên đánh đắm con tầu đã chở muooid từ bờ biển nắng lửa về cho ta?

    Còn “sự ăn uống” chỉ bằng “một suất gạo, một suất muối: hay có thịt heo như được mô tả trang 85 mà bị quy kết là “lãng phí gây nhiều thiệt hại lớn…” thì “không bao dung, đại lượng” chút nào! Trộm nghĩ: sự ăn uống ngày nay thường thấy trong những dịp liên hoan không phải là lễ trọng, nhưng với đủ ác món sơn hào hải vị, bia Tầu, rượu Tây… thì hẳn là khó mà tìm thấy một lũy thừa để dẫn tới tích số gần đúng, khả dĩ theo kịp sự lãng phí của đương thời. Có thể nói không buông tuồng rằng; đó là bệnh xã hội đã một thời không mấy ai tránh hết. Bỏ qua qua một vài cọng cỏ dại đó, “Sử thi thần thoại Mường” vẫn là một chuyên luận công phu. Người điểm sách chia sẻ với những đóng góp này của tác giả.
    • Sử Thi Thần Thoại Mường
    • Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam
    • NXB Văn Hóa Thông Tin 2014
    • Trương Sĩ Hùng
    • 353 Trang
    • File PDF-SCAN
    Link Download
    http://www.nitroflare.com/view/94FC73A31758774
     
    Last edited: Apr 3, 2018

Share This Page